<?xml version="1.0" encoding="ISO-8859-1"?><rss version="2.0">
  <channel>
    <title>Thông tin người Việt Úc Châu - Recent entries in truyen</title>
    <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen</link>
    <description>Recent entries from the site Thông tin người Việt Úc Châu</description>
    <lastBuildDate>Sat, 19 May 2012 21:21:42 -0000</lastBuildDate>
    <docs>http://backend.userland.com/rss/</docs>
    <generator>Truyen 1.17 RC2</generator>
    <category>Entries</category>
    <managingEditor>admin@ucchau.net</managingEditor>
    <webMaster>admin@ucchau.net</webMaster>
    <language>en</language>
        <image>
      <title>Thông tin người Việt Úc Châu - Recent entries in truyen</title>
      <url>http://www.ucchau.net/images/logo.gif</url>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen</link>
      <width>128</width>
      <height>80</height>
    </image>
            <item>
      <title>Mong chờ</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=43</link>
      <description>&lt;p&gt;&lt;font size=&quot;3&quot;&gt;&lt;font color=&quot;#000099&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhà có năm đứa con: ba trai, hai gái. Ngày lũ nhóc còn nhỏ, nghịch phá như quỷ sứ và hay giành đồ nhau, lên ăn cơm giành chén, đũa, tối ngủ giành gối, mền. Nhà nghèo vách lá, bọn chúng đi từ trước ra sau đều có thói quen lấy tay dí vào vách kêu xào xào, chẳng bao lâu tấm vách tả tơi. Cha mẹ nhìn nhau ngao ngán, mong tụi nó lớn. &lt;br /&gt;Giờ giàu, nhà xây bằng tường, tụi nó tứ tán lo xây sự nghiệp, một thằng vừa chết. Nhà vắng thênh thang. Cha mẹ nhìn nhau ngao ngán, mong tụi nó về.&lt;/font&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/font&gt;&lt;font size=&quot;1&quot;&gt;NGUYỄN HỒNG XUYẾN &lt;/font&gt;&lt;/p&gt;</description>
      <pubDate>28.09.2008 03:00</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=43</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Bà và cháu</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=44</link>
      <description>&lt;p&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;font color=&quot;#333399&quot; size=&quot;3&quot;&gt;Cháu ở thành phố về quê thăm bà. Bà sai mần thịt ngay con vịt xiêm đang đẻ. Ăn cơm, bà gắp thịt cho cháu, cháu lại đặt vào chén bà, Cháu chỉ thèm rau thôi . Ai cũng cười. &lt;br /&gt;Mấy năm sau cháu về, bà không còn nữa. Dì khóc: Khi bà còn sống vẫn nhắc, thương cháu còn nhỏ mà hiếu thảo, nói thèm rau nhường thịt lại cho bà . Cháu cúi mặt, bà đâu hiểu cháu không ăn vì quá ngán chứ nào biết nghĩ thương bà mà để dành đâu, bà ơi! &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;font size=&quot;2&quot;&gt;Huyền Xuân&lt;/font&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/font&gt;&lt;/p&gt;</description>
      <pubDate>28.09.2008 03:48</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=44</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Chim Đa Đa</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=13</link>
      <description>Đã lâu rồi, ở dựa mé rừng tha có đôi vợ chồng người tiều phu ăn ở với nhau hai mươi năm rồi mà không có đứa con để vui nhà . 1 hôm vợ chồng bàn với nhau nên đến ngôi chùa ở gần triển núi ăn chay niệm phật để cầu con&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quả nhiên đi cầu tự trở về được ít lâu, thì vợ người tiều phu có thai, sinh được 1 con trai , đặt tên là Đa Đa . Lúc Đa Đa lên 7 tuổi thì mẹ nó qua đời . Còn lại 1 cha 1 con không ai sớm hôm săn sóc cho đứa trẻ, người tiều phu phải ngày ngày vào rừng đốn củi mãi tối mịt mới về, sự mệt mõi làm cho ông không đủ sức để săn sóc nuôi dưỡng con thơ . Sau nhiều lần cân nhắc ông không còn biết làm cách nào hơn là cưới thêm 1 người vợ kế ..&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người đàn bà này không được hiền lành như mẹ ruột of Đa Đa . Ngoài roi vọt , tiếng nặng tiếng nhẹ , chị ta còn bắt Đa Đa phải lặn lội trong cánh đồng chăn đuổi bầy vịt của chị ta nuôi . Đà vậy đến bữa, chị ta chỉ cho Đa Đa ăn cơm thừa canh cặn đói no mặc kệ , Vì vậy tối đến thấy cha về Đa Đa thường thút thít khóc kể với cha về nỗi dì ghẻ hành hạ chăn vịt, bị đòn roi còn lại cho ăn đói . Nhưng người cha không tin lời của đa đa ...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Càng ngày người dì ghé càng ghét cay ghét đắng Đa Đa nên càng nặng lời nhiếc máng, đánh đập tàn nhẫn khi không có cha của Đa Đa ở nhà . Rồi 1 hôm đợi lúc gần tối cha của Đa Đa sắp về , chị xúc 1 chén cát , lấy cơm trắng trải lên trên mặt chén cho Đa Đa bảo ăn . Đa Đa không dám cãi lời mẹ ghẻ , lại nghĩ tủi thân , hồi nào còn mẹ được ăn uống đầy đủ , nâng niu, săn sóc , nay thì cực khổ , cơm lại trộn cát bảo ăn , làm sao mà ăn được , Nên nó cứ cầm chén cơm mà khóc cho tới lúc cha nó lơn tơn xách rựa về nhà ..&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phần mệt nhọc , lại nghe tiếng dì ghẻ chanh chua mắng vốn : Đó ông xem, thằng Đa Đa hành hạ tôi đến bực, cơm đã dâng tận tay nó không chịu ăn ngồi khóc rấm ra rấm rứt như ma trù ma ẻo thì còn làm ăn gì được ..&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Gã tiều phu nóng tính , nghe vậy bực mình rồi lại thấy chén cơm trong tay Đa Đa là cơm trắng ngon lành tại sao không ăn mà ngồi khóc . Nỗi khí xung thiên , gã vớ lấy khúc củi đánh thẳng Đa Đa , chẳng dè trúng nhầm đầu đứa bé ngã ra chết .   Chén cơm trắng đổ tứ tung bày ra những hạt cát .. Bấy giờ gã mới hiểu được lòng dạ độc ác của người vợ kế thì đã muộn rồi . Ông chỉ còn cách chôn con và đuổi chị ta ra khỏi nhà ..&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3 ngày sau ra thăm mả Đa Đa , gã tiều phu thấy từ dưới mả 1 con chim kỳ lạ sắc xám bay lên đậu trên cành nhìn ông rồi cất tiếng kêu :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;   Bát cơm cát trả cho cha, đánh bể óc ác la, ác la đa ..&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;   Gã tiều phu biết ngay rằng hồn Đa Đa hoá thành chim , buông ra những tiếng kêu thê thảm&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;</description>
      <pubDate>07.09.2008 21:48</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=13</guid>
    </item>
        <item>
      <title>KHÔNG THÊM BỚT</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=4</link>
      <description>&lt;p&gt;&lt;font size=&quot;3&quot;&gt;Tôi không sáng tác lấy một chữ. &lt;br /&gt;Thợ dọn nhà làm bể chậu sứ. Buổi sáng, ông Hai la mắng vu vơ. Chị đứng kề bên, nghe rõ, lý sự: &lt;br /&gt;- Mấy chậu sứ cùi, quí giá gì đó! Tôi đập hết luôn cho ông coi. Già rồi, yên phận một chỗ cho con cháu nhờ! &lt;br /&gt;Trưa về, anh mắng tiếp! &lt;br /&gt;- Hồi sáng ông chửi gì? Già gần chết rồi, không để cho con cháu thương! &lt;br /&gt;Ông Hai đứng chết trân, nghe hai đứa con ruột mắng mình. &lt;br /&gt;Tôi không sáng tác lấy một chữ.&lt;/font&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;font size=&quot;1&quot;&gt;VĂN VŨ&lt;/font&gt;&lt;/em&gt; &lt;/p&gt;</description>
      <pubDate>16.08.2008 06:12</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=4</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Được và mất</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=5</link>
      <description>&lt;p&gt;&lt;font size=&quot;3&quot;&gt;&lt;em&gt;Kính tặng Má&lt;/em&gt; &lt;br /&gt;Ba thế hệ tiếp nối nhau dưới một mái nhà. Nắng hun hút nóng, mưa dội tứ giăng... Bữa cơm không đủ chỗ ngồi, giấc ngủ nằm co chen chúc. Nhà tuy ổ chuột, nhưng hạnh phúc là ổ voi! Rồi xây lại nhà. Dành riêng cho má một phòng, nhưng má vẫn thường di trú theo lũ con. Hỏi, má cười Ngủ với bây quen rồi!... . Bao lần về thăm, thường thấy má một mình, khi với mấy tờ báo cũ, lúc lặng lẽ trước mâm cơm. Hỏi, má buồn: Tụi nó trong phòng. Con ăn với má cho vui! . &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;font size=&quot;2&quot;&gt;&lt;em&gt;L.K.THUÝ&lt;/em&gt; &lt;/font&gt;&lt;/font&gt;&lt;/p&gt;</description>
      <pubDate>16.08.2008 06:52</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=5</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Chú Cuội</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=14</link>
      <description>&lt;div align=&quot;center&quot;&gt;Sự tích chú Cuội cung trăng&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Thằng Cuội ngồi gốc Cây đa&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Thả trâu ăn lúa gọi cha ồi ồi&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Cha còn cắt cỏ trên trời&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Mẹ còn cỡi ngựa đi mời quan viên&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Ông thời cầm bút cầm nghiên&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Bà thời cầm tiền đi chuộc lá đa.&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;Ca Dao&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;Ngày xưa ở một miền nọ có một người tiều phu tên là Cuội. Một hôm, như lệ thường, Cuội vác rìu vào rừng sâu tìm cây mà chặt. Khi đến gần một con suối nhỏ, Cuội bỗng giật mình trông thấy một cái hang cọp. Nhìn trước nhìn sau anh chỉ thấy có bốn con cọp con đang vờn nhau. Cuội liền xông đến vung rìu bổ cho mỗi con một nhát lăn quay trên mặt đất. Nhưng vừa lúc đó, cọp mẹ cũng về tới nơi. Nghe tiếng gầm kinh hồn ở sau lưng, Cuội chỉ kịp quẳng rìu leo thoắt lên ngọn một cây cao. Từ trên nhìn xuống, Cuội thấy cọp mẹ lồng lộn trước đàn con đã chết. Nhưng chỉ một lát, cọp mẹ lẳng lặng đi đến một gốc cây gần chỗ Cuội ẩn, đớp lấy một ít lá rồi trở về nhai và mớm cho con. Chưa đầy ăn giập miếng trầu, bốn con cọp con đã vẫy đuôi sống lại, khiến cho Cuội vô cùng sửng sốt. Chờ cho cọp mẹ tha con đi nơi khác, Cuội mới lần xuống tìm đến cây lạ kia đào gốc vác về.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dọc đường gặp một ông lão ăn mày nằm chết vật trên bãi cỏ, Cuội liền đặt gánh xuống, không ngần ngại, bứt ngay mấy lá nhai và mớm cho ông già! Mầu nhiệm làm sao, mớm vừa xong, ông lão đã mở mắt ngồi dậy. Thấy có cây lạ, ông lão liền hỏi chuyện. Cuội thực tình kể lại đầu đuôi. Nghe xong ông lão kêu lên:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Trời ơi! Cây này chính là cây có phép &quot;cải tử hoàn sinh&quot; đây. Thật là trời cho con để cứu giúp thiên hạ. Con hãy chăm sóc cho cây nhưng nhớ đừng tưới bằng nước bẩn mà cây bay lên trời đó!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nói rồi ông lão chống gậy đi. Còn Cuội thì gánh cây về nhà trồng ở góc vườn phía đông, luôn luôn nhớ lời ông lão dặn, ngày nào cũng tưới bằng nước giếng trong.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ ngày có cây thuốc quý, Cuội cứu sống được rất nhiều người. Hễ nghe nói có ai nhắm mắt tắt hơi là Cuội vui lòng mang lá cây đến tận nơi cứu chữa. Tiếng đồn Cuội có phép lạ lan đi khắp nơi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một hôm, Cuội lội qua sông gặp xác một con chó chết trôi. Cuội vớt lên rồi giở lá trong mình ra cứu chữa cho chó sống lại. Con chó quấn quít theo Cuội, tỏ lòng biết ơn. Từ đấy, Cuội có thêm một con vật tinh khôn làm bạn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một lần khác, có lão nhà giàu ở làng bên hớt hải chạy đến tìm Cuội, vật nài xin Cuội cứu cho con gái mình vừa sẩy chân chết đuối. Cuội vui lòng theo về nhà, lấy lá chữa cho. Chỉ một lát sau, mặt cô gái đang tái nhợt bỗng hồng hào hẳn lên, rồi sống lại. Thấy Cuội là người cứu sống mình, cô gái xin làm vợ chàng. Lão nhà giàu cũng vui lòng gả con cho Cuội.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vợ chồng Cuội sống với nhau thuận hòa, êm ấm thì thốt nhiên một hôm, trong khi Cuội đi vắng, có bọn giặc đi qua nhà Cuội. Biết Cuội có phép cải tử hoàn sinh, chúng quyết tâm chơi ác. Chúng bèn giết vợ Cuội, cố ý moi ruột người đàn bà vứt xuống sông, rồi mới kéo nhau đi. Khi Cuội trở về thì vợ đã chết từ bao giờ, mớm bao nhiêu lá vẫn không công hiệu, vì không có ruột thì làm sao mà sống được.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thấy chủ khóc thảm thiết, con chó lại gần xin hiến ruột mình thay vào ruột vợ chủ. Cuội chưa từng làm thế bao giờ, nhưng cũng liều mượn ruột chó thay ruột người xem sao. Quả nhiên người vợ sống lại và vẫn trẻ đẹp như xưa. Thương con chó có nghĩa, Cuội bèn nặn thử một bộ ruột bằng đất, rồi đặt vào bụng chó, chó cũng sống lại. Vợ với chồng, người với vật lại càng quấn quít với nhau hơn xưa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhưng cũng từ đấy, tính nết vợ Cuội tự nhiên thay đổi hẳn. Hễ nói đâu là quên đó, làm cho Cuội lắm lúc bực mình. Ðã không biết mấy lần, chồng dặn vợ: &quot;Có đái thì đái bên Tây, chớ đái bên Ðông, cây dông lên trời!&quot;. Nhưng vợ Cuội hình như lú ruột, lú gan, vừa nghe dặn xong đã quên biến ngay.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một buổi chiều, chồng còn đi rừng kiếm củi chưa về, vợ ra vườn sau, không còn nhớ lời chồng dặn, cứ nhằm vào gốc cây quý mà đái. Không ngờ chị ta vừa đái xong thì mặt đất chuyển động, cây đảo mạnh, gió thổi ào ào. Cây đa tự nhiên bật gốc, lững thững bay lên trời.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vừa lúc đó thì Cuội về đến nhà. Thấy thế, Cuội hốt hoảng vứt gánh củi, nhảy bổ đến, toan níu cây lại. Nhưng cây lúc ấy đã rời khỏi mặt đất lên quá đầu người. Cuội chỉ kịp móc rìu vào rễ cây, định lôi cây xuống, nhưng cây vẫn cứ bốc lên, không một sức nào cản nổi. Cuội cũng nhất định không chịu buông, thành thử cây kéo cả Cuội bay vút lên đến cung trăng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ đấy Cuội ở luôn cung trăng với cả cái cây quý của mình. Mỗi năm cây chỉ rụng xuống biển có một lá. Bọn cá heo đã chực sẵn, khi lá xuống đến mặt nước là chúng tranh nhau đớp lấy, coi như món thuốc quý để cứu chữa cho tộc loại chúng. Nhìn lên mặt trăng, người ta thấy một vết đen rõ hình một cây cổ thụ có người ngồi dưới gốc, người ta gọi cái hình ấy là hình chú Cuội ngồi gốc cây đa....&lt;br /&gt;</description>
      <pubDate>07.09.2008 21:52</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=14</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Sơn Tinh - Thủy Tinh</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=15</link>
      <description>Hùng Vương thứ mười tám có một người con gái tên gọi là Mỵ Nương, sắc đẹp tuyệt trần. Mỵ Nương được vua cha yêu thương rất mực. Nhà vua muốn kén cho nàng một người chồng thật xứng đáng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một hôm có hai chàng trai đến, xin ra mắt nhà vua để cầu hôn. Một người ở vùng núi Ba Vì, tuấn tú và tài giỏi khác thường: chỉ tay về phía đông, phía đông biến thành đồng lúa xanh, chỉ tay về phía tây, phía tây mọc lên hàng dãy núi. Nhân dân trong vùng gọi chàng là Sơn Tinh. Còn một người ở mãi tận miền biển Đông tài giỏi cũng không kém: gọi gió, gió đến, hò ma, ma tới - Chàng này tên gọi là Thủy Tinh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một người là chúa của miền non cao, một người là chúa của vùng nước thẳm, cả hai đều xứng đáng làm rể vua Hùng cả. Hùng Vương băn khoăn không biết nhận lời ai, từ chối ai. Nhà vua cho mời các quan lạc hầu vào bàn mà vẫn không tìm được kế hay. Cuối cùng, Hùng Vương phán rằng:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;   - Hai người đều vừa ý ta cả, nhưng ta chỉ có một người con gái, biết gả cho người nào? Ngày mai, nếu ai đem đồ sính lễ đến đây trước: một trăm ván cơm nếp, hai trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, thì được rước dâu về.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sáng sớm hôm sau, Sơn Tinh đã đem đầy đủ lễ vật đến trước và được phép đưa dâu về núi. Thủy Tinh đến sau, không lấy được vợ, đùng đùng nổi giận, đem quân đuổi theo, một hai đòi cướp lại Mỵ Nương.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thủy Tinh hô ma, gọi gió, làm thành dông bão đùng đùng rung chuyển cả đất trời, dâng nước sông lên cuồn cuộn tiến đánh Sơn Tinh. Nước ngập lúa, ngập đồng rồi ngập nhà, ngập cửa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sơn Tinh không hề nao núng, dùng phép màu bốc từng quả đồi, di từng dãy núi chặn đứng dòng nước lũ. Nước dâng lên cao bao nhiêu, Sơn Tinh lại làm cho đồi, núi mọc cao lên bấy nhiêu. Hai bên đánh nhau ròng rã mấy tháng trời liền, cuối cùng Thủy Tinh đuối sức phải rút quân về.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ đó, oán ngày càng thêm nặng, thù ngày càng thêm sâu, không năm nào Thủy Tinh không làm mưa làm bão, dâng nước lên đánh Sơn Tinh và lần nào Thủy Tinh cũng thua, phải bỏ chạy.&lt;br /&gt;</description>
      <pubDate>07.09.2008 21:53</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=15</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Thạch Sanh Lý Thông</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=16</link>
      <description>Ngày xưa ở Quận Cao Bình có vợ chồng Bác tiền phu  Thạch Nghĩa tuổi đã cao mà không có con. Vợ chồng ngày đêm lo buồn, càng ra sức  làm việc nghĩa, như khơi cống, đào mương, đắp đường, vét giếng, cùng lo nấu nước  giúp cho người qua đường uống, để mong trời trông lại mà cho một mụn con. Quả  nhiên, về sau Thạch Bà thụ thai, nhưng ba năm chưa đẻ. Giữa lúc đó, Thạch Ông  mất, Thạch Bà sinh hạ một đứa con trai khôi ngô tuấn tú, đặt tên là Thạch Sanh.  Sau đó mấy năm, Thạch Bà cũng mất, Thạch Sanh từ đó sống côi cút trong một túp  lều dưới gốc đa, chỉ có một cái khố che thân và một cái búa đốn củi. Năm Thạch  Sanh mười ba tuổi, Ngọc Hoàng sai tiên xuống dạy chàng đủ các môn võ nghệ, mọi  phép thần thông. &lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;span class=&quot;postbody&quot;&gt; &lt;br /&gt; Một hôm, có anh hàng rượu tên là Lý Thông đi ngang qua đó ghé lại nghỉ chân.  Thấy Thạch Sanh khỏe mạnh, lại mồ côi, có thể lợi dụng được, bèn kết nghĩa làm  anh em, rồi đưa Thạch Sanh về nhà. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt; Bấy giờ có một con trăn tinh thường bắt người ăn thịt, quan quân mấy lần vây  đánh nhưng nó nhiều phép thần thông, nên không ai làm gì được; nhà vua đành  truyền lập miếu thờ, và cứ hàng năm phải nộp cho nó một mạng người. Năm ấy đến  lượt Lý Thông phải đi nộp mình. Mẹ con nghe tin, hoảng hốt, bàn định mưu kế đưa  Thạch Sanh đi chết thay. Chiều hôm đó Thạch Sanh đi đốn củi về thì Lý Thông đãi  rượu, rồi bảo: &lt;br /&gt; &lt;br /&gt; -&quot;Hôm nay có việc quan trọng, triều đình cắt phiên cho anh đi canh miếu thờ,  ngặt vì anh trót cất mẻ rượu, sợ hỏng việc ở nhà; mong em chịu khó đi thay anh  một đêm.&quot; Thạch Sanh không nghi ngờ gì cả, thuận đi ngay. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt; Nửa đêm, giữa khu rừng, bỗng gió thổi cây rung, không khí lạnh buốt, Trăn tinh  hiện ra, giơ vuốt nhe nanh, hà hơi tóe lửa, sấn đến định ăn thịt Thạch Sanh.  Thạch Sanh bình tĩnh, hoá phép đánh nhau với Trăn tinh, hồi lâu thì yêu quái bị  giết chết, hoá ra một con trăn lớn. Thạch Sanh chặt lấy đầu mang về. Ðến nhà thì  hết canh ba. Thạch Sanh gọi cửa, mẹ con Lý Thông ngỡ là hồn Thạch Sanh hiện về  báo oán, ở trong nhà mẹ con cứ lạy lục, khấn vái mãi. Thạch Sanh mới rõ dã tâm  của hai người cố tình đưa mình đến chỗ chết, nhưng Sanh tánh hiền lành, không  giận, vui vẻ kể chuyện giết trăn cho mẹ con Lý Thông nghe. Lý Thông nghe xong,  nảy ra một mưu thâm độc. Nó dọa Thạch Sanh rằng Trăn tinh là của nhà vua nuôi  xưa nay, bây giờ giết đi, tất thế nào cũng bị tội chết. Rồi khuyên Thạch Sanh  trốn đi, để hắn ở nhà kiếm cách thu xếp trở về thôn cũ ở gốc đa. Còn Lý Thông  thì đêm ngày trẩy kinh, tâu vua đã trừ được Trăn tinh và hắn được Vua phong chức  đô đốc. &lt;br /&gt; Bấy giờ công chúa con vua muốn kén phò mã, bảng yết khắp dân gian, điệp gửi cùng  các nước, nhưng không chọn được ai vừa ý. Một hôm công chúa đi dạo vườn hoa,  bỗng con yêu tinh Ðại bàng sà xuống cắp đi mất. Tình cờ đại bàng bay ngang trên  cây đa có Thạch Sanh đang ngồi thẫn thờ dưới gốc cây. Thạch Sanh thấy vậy, liền  gương cung bắn một phát trúng ngay vào cánh. Nhưng đại bàng rút tên ra rồi tiếp  tục bay đi, Thạch Sanh lần theo vết máu đỏ, thấy đại bàng chui vào một cái hang  rất kiên cố. Chàng đánh dấu lối vào hang và trở về. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt; Khi nghe tin công chúa bị yêu quái cắp đi mất tích nhà vua đau lòng xót ruột,  truyền cho lý Thông đi tìm, hứa tìm được sẽ gả công chúa và truyền ngôi cho. Lý  Thông vừa mừng vừa lo, bèn lập mưu mở hội hát xướng trong mười ngày, sức cho  nhân dân đến xem mục đích để dò hỏi nghe ngóng tin tức. Tám chín ngày đã qua, mà  không nghe ai nói một lời gì về chuyện đại bàng bắt người cả. Tin Lý Thông mở  hội hát xướng đồn đến tai Thạch Sanh, chàng lần về thăm, gặp Thạch Sanh, Lý  Thông tỏ mối lo không tìm được công chúa. Thạch Sanh thật thà mà kể lại về việc  bắn trúng cánh chim. Lý Thông mừng lắm, lập tức nhờ Thạch Sanh dẫn đường, mang  lính đến nơi sào huyệt của yêu quái. Thạch Sanh tình nguyện xuống hang tìm công  chúa hộ bạn. Quả nhiên gặp công chúa ở đó, Thạch Sanh bèn lấy thuốc mê, bảo công  chúa đưa cho đại bàng uống. Ðoạn Thạch Sanh buộc công chúa vào dây, ra hiệu cho  Lý Thông ở ngoài hang kéo lên. Xong chàng sửa soạn lên theo, nhưng Lý Thông đã  ra lệnh cho quân lính lấp kín hang lại mất rồi. Giữa lúc đó thì đại bàng tỉnh  lại. Thấy mất công chúa, hắn nổi giận lôi đình gầm lên, vách đá ầm ầm rung  chuyển. Nhưng Thạch Sanh hoá phép đánh nhau với nó, cuối cùng đại bàng bị giết  chết, Thạch Sanh mò tìm lối ra, đi đến một nơi, chàng thấy có một cũi sắt trong  giam một người con trai. Thì ra đó là thái tử con vua Thủy Tề, bị đại bàng giam  đã ngót một năm. Thạch Sanh lấy cung vàng bắn tan cũi sắt, cứu thái tử ra. Thái  tử mời Thạch Sanh về thủy cung để vua cha được đền ơn. Vua Thủy Tề mừng lắm,  tặng Thạch Sanh vô số vàng bạc châu báu, nhưng chàng đều từ chối không nhận, chỉ  nhận lấy một cây đàn. Xong rồi từ giã vua và thái tử, lên trần gian, về chốn cũ  ở gốc đa. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt; Bấy giờ hồn Trăn tinh và Ðại bàng, khổ sở đói khát, đi thang lang, thất thểu,  tình cờ gặp nhau, bèn bàn định mưu kế trả thù Thạch Sanh. Chúng lẻn vào kho vua  ăn trộm ngọc ngà châu báu, rồi mang về để ở gốc đa, chỗ của Thạch Sanh. Thạch  Sanh bị bắt hạ ngục. &lt;br /&gt; Nói về công chúa, từ khi lên khỏi hang, chờ Thạch Sanh lên. Thấy Lý Thông đã lấp  mất cửa hang, uất ức lên mà hóa câm. Khi trở về cung, ai hỏi gì nàng cũng không  nói. Vua buồn rầu sai Lý Thông lập đàn cầu nguyện, nhưng đàn lập đã một tháng mà  công chúa vẫn không nói được. Kịp đến cho Thạch Sanh bị bắt giao cho Lý Thông  xét sử, thì Lý Thông bèn định tâm giết đi cho khỏi lo ngại về sau. Ngồi trong  ngục. Thạch Sanh buồn tình lấy đàn ra gẩy, Không ngờ cây đàn ấy lại là đàn thần  . Gẩy đến đâu đàn kể lể đến đó, nó kể rõ đầu đuôi câu chuyện, nó tố cáo tội ác  của Lý Thông, nó oán trách sự hờ hững của công chúa. Nó kêu lên, nó rền rĩ, ngân  nga trong cung này đến cung nọ. Công chúa ngồi trên lầu, nghe tiếng đàn bỗng reo  mừng, cười nói, xin vua cha cho gọi người gẩy đàn. Vua đòi Thạch Sanh kể lại sự  tình cho vua nghe, từ khi mồ côi cha mẹ, học phép tiên, kết bạn với Lý Thông,  khi chém Ttrăn tinh, khi bắn đạ bàng, cứu công chúa và bị lấp cửa hang. Khi cứu  con vua thuỷ tề, khi bị hồn yêu tinh vu oan giáo hoạ. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt; Vua liền truyền lệnh hạ ngục mẹ con Lý Thông, và giao cho Thạch Sanh được toàn  quyền xử định. Thạch Sanh thương tình cho hai mẹ con Lý Thông trở về làng, nhưng  dọc đường hai mẹ con gặp trận mưa giông và cả hai đều bị sét đánh chết. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt; Kế đó, vua cho Thạch Sanh kết hôn cùng công chúa, tin ấy truyền đi, thái tử mười  tám nước chư hầu trước đã ôm hận vì bị công chúa ruồng rẫy, nay vua gả cho một  thằng khố rách áo ôm, liền cất binh mã đến hỏi tội .Vua sai Thạch Sanh ra dẹp  giặc. Khi giáp trận, Thạch Sanh lại đem cây đàn của mình ra gẩy. Tiếng đàn khi  khoan khi nhặt, êm ấm lạ thường, khiến cho quân địch phải xúc động, người thì  bồi hồi thương con, thương vợ, kẻ thì bâng khuâng nhớ tới quê hương ,không một  ai còn nghĩ tới chiến đấu nữa. Thái tử mười tám nước chư hầu thấy thế khiếp sợ  vội vàng xin hàng, Thạch Sanh dọn một liêu cơm nhỏ cho chúng ăn, nhưng chúng ăn  mãi không hết. Chúng càng phục Thạch Sanh rập đầu lậy tạ kéo nhau về nước. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt; Vua liền làm lễ nhường ngôi cho Thạch Sanh. Khi lên ngôi công việc đầu tiên của  Thạch Sanh là xóa thuế, phóng thích tù nhân, và khuyến khích muôn dân trăm họ  theo nghề nông trang.Từ đó, nhân dân mới được yên ổn làm ăn nhà nhà được no ấm  đông vui.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;</description>
      <pubDate>07.09.2008 21:54</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=16</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Sự Tích Trầu Cau</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=17</link>
      <description>Thời xưa, một nhà quan lang họ Cao có hai người con trai hơn nhau một tuổi và giống nhau như in, đến lỗi người ngoài không phân biệt được ai là anh ai là em. Năm hai anh em mười bảy mười tám tuổi thì cha mẹ đều chết cả. Hai anh em vốn đã thương yêu ngau, nay gặp cảnh hiu quạnh, lại càng yêu thương nhau hơn trước.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Không còn được cha dậy dỗ cho nữa, hai anh em đến xin học ông đạo sĩ họ Lưu. Hai anh em học hành chăm chỉ lại đứng đắn nên được thầy yêu như con. Ông Lưu có một cô con gái tuổi chừng mười sáu mười bảy, nhan sắc tươi tắn, con gái trong vùng không người nào sánh kịp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trông thấy hai anh em họ Cao vừa đẹp vừa hiền, người con gái đem lòng yêu mến, muốn kén người anh làm chồng, nhưng không biết người nào là anh, người nào là em.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một hôm, nhân nhà nấu cháo, người con gái lấy một bát cháo và một đôi đũa mời hai người ăn. Thấy người em nhường người anh ăn, người con gái mới nhận được ai là anh, ai là em. Sau đó, người con gái nói với cha mẹ cho phép mình lấy người anh làm chồng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ khi người anh có vợ thì thương yêu giữa hai anh em không được thắm thiết nữa. Người em rất là buồn, nhưng người vô tình không để ý đến&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một hôm hai anh em cùng lên nương, tối mịt mới về, người em vào nhà trước; chàng vừa bước chân qua ngưỡng cửa thì người chị dâu ở trong buồng chạy ra lầm chàng là chồng mình, vội ôm chầm lấy. Người em liền kêu lên, cả hai đều xấu hổ. Giữa lúc ấy, người anh cũng bước vào nhà. Từ đấy người anh nghi em có tình ý với vợ mình, càng hững hờ với em hơn trước.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một buổi chiều, anh chị đều đi vắng cả, người em ngồi một mình nhìn ra khu rừng xa xa, cảm thấy cô quạnh, lại càng buồn tủi, vùng đứng dậy ra đi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chàng đi, đi mãi cho đến khu rừng phía trước mặt, rồi theo đường mòn đi thẳng vào rừng âm u. Trời bắt đầu tối, trăng đã lên, mà chàng vẫn cứ đi. Ði đến một con suối rộng nước sâu và xanh biếc, chàng không lội qua được, đành ngồi nghỉ bên bờ. Chàng khóc thổn thức, tiếng suối reo và cứ reo, át cả tiếng khóc của chàng. Ðêm mỗi lúc một khuya, sương xuống mỗi lúc một nhiều, sương lạnh thấm dần vào da thịt chàng, chàng chết mà vẫn ngồi trơ trơ, biến thành một tảng đá.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người anh cùng vợ về nhà, không thấy em đâu, lẳng lặng đi tìm, không nói cho vợ biết. Theo con đường mòn vào rừng, chàng đi mãi, đi mãi, và sau cùng đến con suối xanh biếc đang chảy cuồn cuộn dưới ánh trăng và không thể lội qua được, đành ngồi bên bờ suối, tựa mình vào một tản đá. Chàng có ngờ đâu chính tảng đá là em mình! Sương vẫn xuống đều, sương lạnh rơi lã chã từ cành lá xuống. Chàng rầu rĩ khóc than hồi lâu, ngất đi và chết cứng, biến thành một cây không cành, mọc thẳng bên tảng đá.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;ở nhà, vợ không thấy chồng đâu, vội đi tìm và cũng theo con đường mòn đi vào rừng thẳm. Nàng đi mãi, bước thấp bước cao, rồi cuối cùng gặp con suối nước sâu và xanh biếc. Nàng không còn đi được nữa. Nàng ngồi tựa vào gốc cây không cành mọc bên tảng đá, vật mình than khóc. Nàng có ngờ đâu nàng đã ngồi tựa vào chồng mình và sát đó là em chồng. Nàng than khóc, nhưng tiếng suối to hơn cả tiếng than khóc của nàng. Ðêm đã ngả dần về sáng, sương xuống càng nhiều, mù mịt cả núi rừng, nàng vật vã khóc than. Chưa đầy nửa đêm mà nàng đã mình gầy xác ve, thân mình dài lêu nghêu, biến thành một cây leo quấn chặt lấy cây không cành mọc bên tảng đá.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về sau chuyện ấy đến tai mọi người, ai nấy đều thương xót. Một hôm, vua Hùng đi qua chỗ ấy, nhân dân đem chuyện ba người kể lại cho vua nghe và đến xem. Vua bảo thử lấy lá cây leo và lấy quả ở cái cây không cành nghiền với nhau xem sao, thì thấy mùi vị cay cay? Nhai thử, thấy thơm ngon và nhổ nước vào tảng đá thì thấy bãi nước biến dần ra sắc đỏ. Nhân dân gọi cái cây mọc thẳng kia là cây cau, cây dây leo kia là cây trầu, lại lấy tảng đá ở bên đem về nung cho xốp để ăn với trầu cau, cho miệng thơm, môi đỏ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tình duyên của ba người tuy đã chết mà vẫn keo sơn, thắm thiết, cho nên trong mọi sự gặp gỡ của người Việt Nam, miếng trầu bao giờ cũng là đầu câu chuyện, để bắt đầu mới lương duyên, và khi có lễ nhỏ, lễ lớn, cưới xin, hội hè, tục ăn trầu đã trở nên tục cố hữu của dân tộc Việt Nam.</description>
      <pubDate>07.09.2008 21:55</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=17</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Sự Tích Con Dã Tràng</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=18</link>
      <description>Có hai vợ chồng một ông già tên là Dã Tràng. Trong vườn họ có một hang rắn. Thường ngày làm cỏ gần đấy, ông già vẫn thấy có một cặp vợ chồng rắn hổ mang ra vào trong hang .&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một hôm, con rắn chồng bò ra khỏi hang một mình. Ông nhìn vào, thấy rắn vợ nằm cuộn ở trong. Vì mới lột nên mình mẩy của nó yếu ớt không cựa quậy được. Một lúc lâu rắn chồng bò trở về, miệng tha một con nhái đút cho vợ ăn .&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ít lâu sau . Dã Tràng lại thấy rắn vợ bò ra khỏi hang một mình. Lần này rắn chồng đến kỳ lột, nằm im thiêm thiếp, lốt da cũ còn bỏ lại bên hang . Hồi lâu, rắn vợ trở về, theo sau một con rắn đực khác khá lớn. Dã Tràng thấy hai con bò đến cửa hang thì dừng lại rồi quấn lấy nhau như bện dây thừng. Một lát sau, con rắn đực một mình bò vào hang . Dã Tràng biết con rắn đực này toan làm gì rồị Ổng cảm thấy ngứa mắt, muốn trừ bỏ con rắn đó đi để cứu con rắn chồng đang lúc suy nhược. Lúc đó bên mình không có cái gì cả, ông bèn rút một mũi tên nhằm con rắn đực mới đến, bắn ngay một phát. Không ngờ mũi tên lại trúng vào đầu con rắn vợ chết tươi, còn con kia hoảng hồn chạy mất. Dã Tràng nghĩ cũng thương con rắn cái, nhưng trong cái thương có lẫn cả giận, nên ông chán nản bỏ đi về nhà. Từ đó ông không thèm để ý đến hang rắn nữạ Chừng dăm bảy ngày sau, một hôm Dã Tràng nằm võng thuật chuyện vợ chồng con rắn cho vợ nghe và vui miệng, ông kể luôn những việc mình đã thấy và đã làm. Ông kể vừa dứt lời thì bỗng nghe trên máng nhà có tiếng phì phì. Cả hai người hốt hoảng nhìn lên thì thấy có một con rắn hổ mang rất lớn, đuôi quấn lấy xà nhà, đầu vươn gần chỗ ông nằm, miệng nhả một viên ngọc. Ông vừa cầm lấy thì bỗng nghe được tiếng rắn nói :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Ông là ân nhân mà tôi cứ ngỡ là kẻ thù. Mấy hôm nay tôi đợi ông trên máng này chỉ chực mổ chết để báo thù cho vợ tôi . Nhưng hồi nãy nghe ông kể chuyện rõ ràng, tôi mới biết là lầm. Xin biếu ông viên ngọc nghe nàỵ Đeo nó vào mình thì có thể nghe được mọi tiếng muông chim ở thế gian .&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ kinh ngạc đến sung sướng, Dã Tràng nhận viên ngọc quý và từ đó không bao giờ rờị&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một hôm, Dã Tràng đang hái rau, tự dưng có một bầy quạ đến đậu ở mấy ngọn cau nói chuyện lao xao . Chúng nó bảo Dã Tràng như thế này : &quot;Ở núi Nam có một con dê bị hổ vồ. Hãy lên đó lấy về mà ăn nhưng nhớ để lòng lại cho chúng tôi với&quot;. Dã Tràng làm theo lời quạ, quả thấy xác một con dê trên núi Nam . Ông xẻo lấy một ít thịt xâu lại xách về. Đến nhà, ông vội mách cho xóm giềng biết mà đi lấy, không quên dặn họ để bộ ruột dê lại cho bầy quạ. Nhưng ông không ngờ người trong xóm nghe tin ấy, đua nhau đi đông quá, thành ra họ lấy tất cả, chẳng chừa một tí gì.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lũ quạ không thấy ruột dê, cho là Dã Tràng đánh lừa, bèn đổ xô đến vườn ông réo om sòm. Thấy vậy ông biết là người trong xóm đã làm hại mình, không giữ chữ tín với bầy quạ. Ông phân trần mấy lần nhưng bầy quạ không nghe, cứ đứng đó chửi mãị&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tức mình, ông bèn lấy cung tên ra bắn vào chúng. Chủ ý là để đuổi chúng đi chứ không định giết. Chẳng ngờ bầy quạ thấy vậy cho là ông lấy oán trả ân, liền cắp mũi tên có tên Dã Tràng ở đuôi, tìm dịp báo thù. Lúc bay qua sông, thấy một cái xác chết trôi, đàn quạ bèn đem mũi tên ấy cắm vào yết hầu xác chết. Khi quan sở tại đến làm biên bản, thấy mũi tên, liền đoán Dã Tràng là thủ phạm, sai lính bắt ông, hạ ngục.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dã Tràng bị bắt bất ngờ, hết sức kêu oan, nhưng mũi tên là một chứng cớ sờ sờ làm cho ông đuối lý, đành chịu chui đầu vào gông . Tuy nhiên, ông vẫn một mực xin quan xét giải ông về kinh để vua phân xử.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ đề lao tỉnh, ông bị điệu đi . Dọc đường trời tối, bọn lính dừng lại quán ăn uống và nghỉ ngơi . Dã Tràng cổ bị gông, chân bị xiềng nằm trên đống rơm buồn rầu không ngủ được. Lúc trời gần rạng, ông nghe có một đàn chim sẻ bay ngang đầu nói chuyện với nhau :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Nhanh lên ! Chuyến này sẽ không lo đói nữa mà cũng chả sợ ai đánh đuổi cả.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một con khác hỏi :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Của ai mang đến bỏ vương vãi như thế ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Con nọ trả lời :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Của Vua nước bên kia . Họ toan kéo sang đánh úp bên nàỵ Ngày hôm qua, quân đội giáo mác kéo đi liên miên không ngớt. Nhưng xe thóc vừa sắp đến biên giới thì bị sụp hầm đổ hết. Họ đang trở về lấy thứ khác cho nên chúng ta tha hồ chén.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nghe đoạn, chờ lúc bọn lính thúc dục lên đường, Dã Tràng bảo họ :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Xin các ông bẩm lại với quan rằng việc oan uổng và nhỏ mọn, không nên bận tâm, mà giờ đây chỉ nên lo việc quốc gia trọng đại thôi, và còn cấp bách nữa là khác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bọn lính tra gạn ông mãi nhưng ông không nói gì thêm, chỉ nài rằng hễ có mặt quan, mình mới tỏ bày rõ ràng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi gặp mấy vị quan đầu tỉnh, Dã Tràng liền cho họ biết rằng Hiến Đế ở phương bắc đã sai tướng cầm quân sang đánh úp nước mình. Hiện họ đang đóng quân đầy ở biên giới, chỉ vì bị sụp hầm, xe lương đổ hết, chưa tấn công được. Bây giờ họ đang vận thêm lương, chờ đầy đủ sẽ vượt cửa ải sang Nam . Bọn quan tỉnh lấy làm lo lắng nhưng cũng cố hỏi ông có dám chắc như vậy không . Dã Tràng chỉ vào đầu mình mà đoan rằng nếu có sai, ông sẽ xin chịu chết. Nhưng nếu lời của ông đúng thì xin bề trên thả ra cho . Ngay lúc đó, những tên quân do thám được tung đi tới tấp mọi ngõ để lấy tin . Và nội ngày hôm sau, Dã Tràng được thả vì lời mách của ông quả không sai và vừa vặn đúng lúc để chuẩn bị đối phó với địch.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Được tha, Dã Tràng đi bộ lần về quê nhà. Bóng chiều vừa ngả, ông mới đến vùng Hồng Hoa . Ông tìm vào nhà người bạn rất thân là Trần Anh nghỉ chân .&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Gặp lại bạn cũ, vợ chồng Trần Anh vui mừng khôn xiết. Nghe tin ông bị tra tấn giam cùm và suýt mất đầu, hai vợ chồng rất cảm thương bạn. Thấy bữa ăn tối thết bạn không có gì, Trần Anh xuống bếp bảo vợ :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Bạn ta đến, lại gặp lúc trong nhà chả có gì ăn . Sẵn có cặp ngỗng, con nó đã khôn, ta làm thịt một con, ngày mai đãi bạn lên đường.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người vợ bằng lòng nhưng dặn chồng sáng sớm bắt ngỗng và cắt tiết vặt lông giúp mình một tay .&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong khi hai vợ chồng bàn tính thì cặp ngỗng ở ngoài chuồng nghe được câu chuyện. Ngỗng trống bảo ngỗng mái :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Mình ơi ! Mình hãy ở lại nuôi con, tôi sẽ đứng sẵn cho chủ nó bắt. Ngỗng mái không nghe, xin chết thay cho chồng. Nhưng ngỗng trống nhất quyết hy sinh, nên chạy ra sân từ giã đàn con :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Con ơi ! Các con ở lại với mẹ nghe . Cha sẽ không bao giờ gặp lại các con nữạ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Song ngỗng mái vẫn lạch bạch chạy theo, đòi chết thay chồng cho bằng được.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lúc bấy giờ Dã Tràng nằm trên bộ ván đặt kề cửa sổ nên nghe được tiếng ngỗng than thở. Ông bỗng thấy thương con vật vô tội chỉ vì mình mà phải lìa đàn con bé bỏng. Ông toan nói trước với bạn, nhưng thấy bất tiện. Ông đành nghe ngóng ở chỗ chuồng ngỗng chờ lúc bạn ra bắt thì sẽ cản lạị&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Suốt đêm hôm đó tuy mệt mà ông không dám ngủ. Quả nhiên, vào khoảng canh tư, Trần Anh thức dậy bước ra chuồng. Ngỗng trống xua ngỗng mái chạy rồi vươn cổ để cho bắt. Trần Anh sắp cắt cổ ngỗng thì Dã Tràng đã lật đật chạy xuống bếp nắm lấy đao . Ông nói :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Xin bạn thả nó ra . Tính tôi không hay sát sinh . Tình thân của đôi ta lọ phải cỗ bàn mới thân . Nếu bạn giết nó thì tôi lập tức đi khỏi chỗ nàỵ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thấy bạn có vẻ quả quyết, Trần Anh đành thả ngỗng ra, rồi giục vợ chạy đi mua tép về đãi bạn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cơm nước xong, Dã Tràng từ giã bạn lên đường về nhà. Đến ao, ông đã thấy vợ chồng ngỗng cùng với bầy con đứng chực ở đấỵ Ngỗng đực tặng Dã Tràng một viên ngọc và nói :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Đa tạ ân nhân cứu mạng. Không biết lấy gì báo đền, chúng tôi xin tặng người viên ngọc này, mang nó vào người có thể đi được dưới nước dễ dàng không khác gì trên bộ. Nếu đem ngọc này xuống nước mà khoắng thì sẽ rung động đến tận đáy biển.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngỗng lại nói tiếp :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Còn như con tép là vật đã thế mạng chúng tôi thì từ nay, dòng dõi chúng tôi sẽ xin chừa tép ra không ăn, để tỏ lòng nhớ ơn !&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dã Tràng không ngờ có sự báo đáp quá hậu như thế, sung sướng nhận lấy ngọc rồi về.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi đến bờ sông, Dã Tràng muốn thử xem công hiệu của viên ngọc mới, liền cứ để nguyên áo quần đi xuống nước. Thì lạ thay, nước rẽ ra thành một lối cho ông đi thẳng xuống đáy sông . Ông dạo cảnh hồi lâu rồi cầm viên ngọc khoắng vào nước nhiều lần để thử xem thế nàọ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hôm đó, Long Vương và các triều thần đang hội họp ở thủy phủ bỗng thấy nhà cửa lâu đài và mọi kiến trúc khác bỗng nhiên rung động, cơ hồ muốn đổ. Ai nấy đều nháo nhác không hiểu duyên cớ. Vua lập tức truyền cho bộ hạ đi dò la sự tình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bộ hạ Long Vương theo con đường sóng ngầm lọt vào cửa sông thì thấy Dã Tràng đang cầm ngọc khoắng vào nước. Mỗi lần khoắng như thế, họ cảm thấu xiêu người nhức óc. Tuy biết đích là thủ phạm, họ cũng không dám làm gì, chỉ tiến đến dùng lời nói khéo mời ông xuống chơi thủy phủ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Gặp Long Vương, Dã Tràng cho biết đó là mình chỉ mới làm thử để xem phép có hiệu nghiệm chăng . Long Vương và triều thần nghe nói, ai nấy đều xanh mặt. Nếu hắn làm thật thì thế giới thủy phủ sẽ còn gì nữa ! Vì thế, Long Vương đãi Dã Tràng rất hậụ Ông muốn gì có nấỵ Cho đến lúc ông ra về, Long Vương còn đem vàng bạc tống tiễn rất nhiều để mong nể mặt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dã Tràng lên khỏi nước có bộ hạ của Long Vương tiễn chân về tới tận nhà mới trở lạị Bà con xóm giềng thấy ông đã không việc gì mà lại trở nên giàu có thì ai cũng lấy làm mừng cho ông . Từ đó Dã Tràng rất quý hai viên ngọc. Ông may một cái túi đựng chúng và luôn luôn đeo ở cổ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một hôm Dã Tràng đi bộ nửa ngày đường đến nhà một người bà con ăn giỗ. Lúc đến nơi Dã Tràng sờ lên cổ giật mình mới nhớ ra vì vội vàng quá nên ông đã bỏ quên mất túi ngọc ở nhà. Ông thấy không thể nào an tâm ngồi ăn được. Mọi người đều lấy làm ngạc nhiên thấy ông vừa chân ướt chân ráo đến nơi đã vội cáo từ về ngay .&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhưng khi về đến nhà, ông tìm mãi vẫn không thấy túi ngọc đâu cả. Ông rụng rời cả ngườị Đi tìm vợ, vợ cũng không thấy nốt. Nóng ruột, ông lục lọi khắp nơi . Cuối cùng ông bắt được một mảnh giấy do vợ ông viết để lại gài ở chỗ treo áọ Trong đó, vợ ông nói rằng có người của Long Vương lên bảo cho biết hễ ai bắt được túi ngọc đưa xuống dâng Long Vương thì sẽ được phong làm hoàng hậụ Bởi vậy bà ta đã trộm phép ông, đưa túi ngọc xuống thủy phủ rồi, không nên tìm làm gì cho mệt. Đọc xong thư vợ. Dã Tràng ngất đi . Ông không ngờ vợ ông lại có thể như thế được. Ông cũng không ngờ âm mưu của Long Vương thâm độc đến nước ấỵ Nghĩ đến hai thứ bảo vật, ông tức điên ruột. Sau cùng, ông dự tính chở cát lấp biển thành một con đường đi xuống thủy phủ để lấy lại túi ngọc vì ông còn nhớ cả đường lối đến cung điện của Long Vương . Mặc dầu mọi người can ngăn, ông cũng không nghe, bèn dọn nhà ra bờ biển làm công việc đó. Ngày ngày ông xe cát chở đến bờ quyết lấp cho bằng được. Cho tận đến chết, Dã Tràng vẫn không chịu bỏ dở công việc. Chết rồi ông hóa thành con còng còng hay cũng gọi là con Dã Tràng ngày ngày xe cát để lấp biển. Tục ngữ có câu :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Dã Tràng xe cát biển Đông.&lt;br /&gt;Nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì.&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hay là :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Công Dã Tràng hàng ngày xe cát,&lt;br /&gt;Sóng biển dồn tan tác còn chi.&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hay là :&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;br /&gt;Con còng còng dại lắm không khôn.&lt;br /&gt;Luống công xe cát sóng dồn lại tan.&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người ta nói ngày nay loài ngỗng sở dĩ không bao giờ ăn tép là vì chúng nó nhớ ơn loài tép đã thế mạng cho tổ tiên mình ngày xưa . Họ còn nói loài ngỗng có một cái mào trắng trên đầu là dấu hiệu để tang cho Dã Tràng để nhớ ơn cứu mạng. </description>
      <pubDate>07.09.2008 21:57</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=18</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Con cóc là cậu ông Trời</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=19</link>
      <description>Ngày xửa ngày xưa, con cóc vẫn sần sùi xấu xí như ngày nay, nhưng cóc nổi tiếng giữa muôn loài là một con vật tuy bé nhỏ nhưng rất gan dạ. Gan cóc tía mà lại. Vào một năm không nhớ rõ năm nào, trời làm hạn hán khủng khiếp. Nắng lửa hết tháng này đến tháng khác thiêu cháy cây cối, hút cạn nước sông ngòi, đầm hồ. Muôn loài không còn một giọt nước để uống. Các con vật to lớn hùng mạnh xưa nay tác oai tác quái trong rừng đều nằm lè lưỡi mà thở để đợi chết, không ai nghĩ được kế gì để cứu mình, cứu muôn loài. Sức mạnh của chúng chỉ để bắt nạt nhau thôi chứ đâu có thể làm gì nổi ông trời. Duy có anh chàng Cóc tía bé nhỏ, xấu xí kia là có gan to. Anh tính chuyện lên thiên đình kiện Trời làm mưa cứu muôn loài... Khởi đầu chỉ có một mình nhưng anh đâu có nản. Đi qua một vũng đầm khô, Cóc tía gặp Cua càng. Cua hỏi Cóc đi đâu. Cóc bèn kể rõ sự tình và rủ Cua cùng đi kiện Trời. Ban đầu Cua định bàn ngang. Thà chết ở đây còn hơn chứ Trời xa thế đi sao tới mà kiện với tụng. Nhưng những con vật ở quanh Cua nghe Cóc nói lại tranh nhau mà bàn ngang bàn lùi, làm cho Cua nổi giận. Nói ngang bàn ngang là chuyện ngang của Cua thế mà họ lại dám tranh mất cái quyền ấy, cái quyền được phép ngang như cua cơ mà. Thế là Cua làm ngược lại, Cua tình nguyện cùng đi với Cóc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đi được một đoạn nữa, Cóc lại gặp Cọp đang nằm phơi bụng thở thoi thóp. Gấu đang chảy mỡ ròng ròng và khát cháy họng. Cóc rủ Gấu và Cọp đi kiện trời. Cọp còn lưỡng lự thì Gấu đã gạt đi mà nói rằng:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Anh Cóc nói có lý, chẳng có lẽ chúng mình cứ nằm ở đây đợi chết khát cả ư... Ta theo anh Cóc thôi. Đến ngang như anh Cua còn theo anh Cóc được thì tại sao chúng mình không theo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cả bọn nhập lại thành đoàn. Đi thêm một chặng nữa thì gặp đàn Ong đang khô mật và con Cáo bị lửa nướng cháy xém lông. Cả hai con vật này cũng hăng hái nhập vào đoàn loài vật đi kiện Trời do Cóc dẫn đầu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cóc dẫn các bạn đi mãi, đi mãi đến tận cửa thiên đình. Khi đi trên đường cả bọn đều hăng hái nhưng đến trước cửa Trời oai nghiêm, bọn Cọp, Gấu, Cáo, Ong, Cua đều sợ, duy chỉ có Cóc là gan liền dõng dạc ra lệnh:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Bây giờ các anh phải nghe lời tôi. Kia là chum nước của Trời, anh Cua vào nấp trong ấy. Anh Cáo nấp ở phía bên trái tôi, anh Gấu nằm ở phía bên phải tôi, còn anh Cọp chịu khó nằm đằng sau tôi. Các anh có nghe lệnh của tôi thì mới thắng được Trời.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tất cả đều nghe lệnh của Cóc. Sắp đặt xong đâu đấy Cóc mới nhảy lên mặt trống đánh ba hồi ầm vang như sấm động.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngọc Hoàng đang ngủ trưa một cách lười biếng bị tiếng trống lôi đình đánh thức dậy nên bực tức, bắt Thiên Lôi ra xem có chuyện gì. Thiên Lôi lười biếng vội phủi bụi và mạng nhện giăng đầy trên lưỡi búa tầm sét cắm cổ chạy ra. Thiên Lôi ngạc nhiên vì ở ngoài cửa thiên đình chẳng thấy có một người nào cả chỉ thấy mỗi một con Cóc xù xì xấu xí đang ngồi chễm trệ trên mặt trống của nhà Trời. Thiên Lôi hết nhìn con Cóc lại nhìn lưỡi búa tầm sét khổng lồ của mình và thở dài vì cái búa to quá mà Cóc bé quá, đánh chưa chắc đã trúng được. Thiên Lôi bèn cắm cổ vào tâu Ngọc Hoàng. Ngọc Hoàng nghe xong bực lắm bèn sai con gà trời bay ra mổ chết chú Cóc hỗn xược kia.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Gà trời vừa hung hăng bay ra thì Cóc đã nghiến răng ra hiệu, lập tức chàng Cáo nhảy ra cắn cổ gà tha đi mất. Cóc lại đánh trống lôi đình. Ngọc Hoàng càng giận giữ sai Chó nhà trời xổ ra cắn Cáo. Chó vừa xồng xộc chạy ra thì Cóc lại nghiến răng ra hiệu. Lập tức anh Gấu lừng lững xổ ra đón đường tát cho Chó một đòn trời giáng. Chó chết tươi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cóc lại thúc trống lôi đình đánh thức Ngọc Hoàng. Ngọc Hoàng bèn sai Thiên Lôi ra trị tội gấu. Thiên Lôi là vị thần trời có lưỡi tầm sét mỗi lần vung lên thì thành sét đánh ngang trời, thành sấm động bốn cõi. Sức mạnh của Thiên Lôi không có ai bì được. Ngọc Hoàng yên trí lần này cử đến ông Thiên Lôi ra quân thì cái đám Cóc, Cáo ắt hẳn là tan xác. Vì thế khi ông Thiên Lôi vác lưỡi tầm sét đi là Ngọc Hoàng lại co chân nằm trên ngai vàng mà ngủ tiếp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thiên Lôi vừa hùng hổ vác búa tầm sét ra đến cửa thiên đình thì Cóc đã nghiến răng ra lệnh, lập tức chàng Ong nấp trên cánh cửa bay vù ra và cứ nhè vào mũi Thiên Lôi mà đốt. Nọc ong đốt đau lắm, mũi Thiên Lôi rát như phải bỏng. Nhớ là ở cửa trời có một chum nước. Thiên Lôi vội vàng vứt cả búa tầm sét nhảy ùm vào chum nước chạy trốn. Nào ngờ vừa nhảy ùm vào trong chum nước thì anh Cua càng nấp trong đó từ bao giờ đã chờ sẵn để giương đôi càng như đôi gọng kìm cắp chặt lấy cổ. Thiên Lôi đau quá gào thét vùng vẫy vỡ cả chum nước nhà Trời. Thiên Lôi tìm đường chạy trốn thì Cóc tía lại nghiến răng ra lệnh. Lập tức Cọp nấp sau Cóc tía nhảy bổ ra gầm lên một tiếng vang động xé tan xác Thiên Lôi thành hai mảnh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngọc Hoàng thấy thế sợ quá bèn xin giảng hoà với Cóc, và xin Cóc cho nhận lại xác của Thiên Lôi để cứa chữa. Cóc bằng lòng ngay. Theo lệnh nghiến răng của Cóc, Cọp và Gấu vác xác Thiên Lôi về xếp lại ở giữa sân điện thiên đình. Ngọc Hoàng phải ra tay làm phép tưới nước cam lồ vào cái xác đầy thương tích đó. Nhờ phép của Ngọc Hoàng, Thiên Lôi mới được sống lại. Ngọc Hoàng nghĩ mình đường đường là một ông Trời mà lại chịu thua Cóc thì thật là điều sỉ nhục, nên tính lật lọng, sai Thiên Lôi vác búa tầm sét chống lại Cóc và các bạn của Cóc. Biết thế nào Ngọc Hoàng cũng tính chuyện lật lọng nên Cóc lại nghiến răng. Lập tức các bạn của Cóc dàn trận. Ong giương nọc, Cáo giương nanh, Cọp giương vuốt, Cua giương càng, Gấu giương cánh tay đầy sức mạnh... Thiên Lôi vừa mới thoát chết hoảng quá lui lại không dám tiến lên, mà thụt vào nấp sau chiếc ngai vàng của Ngọc Hoàng. Các tướng nhà Trời oai phong lẫm liệt thấy đến ông Thiên Lôi còn sợ sệt như thế thì hoảng quá tìm kế thối lui.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thấy tướng nhà trời của mình như vậy, Ngọc Hoàng biết không thể thắng nổi Cóc và các bạn của Cóc. Đến lúc bấy giờ Ngọc Hoàng mới thực bụng giảng hoà, và hỏi Cóc lên tận thiên đình có việc gì. Cóc oai phong nhảy hẳn lên tay ngai vàng và dõng dạc thưa:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Đã bốn năm nay ở dưới trần gian hạn hán kéo dài, không một giọt mưa. Muôn cây khô héo, vạn vật chết khát... Tưởng Ngọc Hoàng bận gì hoặc là Ngọc Hoàng giận gì trần gian mà ra phúc hoạ, ai ngờ lên đây mới biết Ngọc Hoàng và các tướng nhà trời ngủ quên không nhớ đến việc làm mưa cứu muôn vật muôn loài dưới trần thế... Chúng tôi phải lên tận đây đánh thức Ngọc Hoàng, xin Ngọc Hoàng làm mưa ngay cho trần gian được nhờ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thấy Cóc nói giọng oai phong và bạn bè Cóc lại đằng đằng sát khí, Ngọc Hoàng vội cuống quýt chống chế:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Cóc với ta là chỗ thân thích, việc gì mà cậu phải mất công đến như vậy, ta sẽ sai thần mưa, thần gió xuống hạ giới làm mưa ngay bây giờ... Cậu Cóc có bằng lòng thế không nào.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cóc gật gù thưa:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Muôn tâu Ngọc Hoàng, trần gian được một trận mưa cứu khát thì còn gì bằng nữa... Anh em tôi vô cùng đội ơn Ngọc Hoàng... Nhưng nếu ở hạ giới mà hễ bị hạn hán là bọn anh em chúng tôi lại lên đây kêu với Ngọc Hoàng đấy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nghe Cóc hẹn lại lên thiên đình, Ngọc Hoàng hoảng hồn rối rít lắc đầu xua tay:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Thôi khỏi, thôi khỏi phải bận đến cậu như thế... Chỗ cậu và ta là tình thân thích, cậu chả nên bầy vẽ vất vả mệt nhọc như vậy làm gì. Cậu không phải lên thiên đình nữa... Khi nào có hạn hán cậu muốn ta làm mưa, cậu chỉ cần ngồi dưới đất nghiến răng là ta nghe thấy liền.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Để chứng tỏ lòng thành thật không lật lọng của mình, Ngọc Hoàng sai rồng đen bay xuống phun mưa, và đưa Cóc cùng các bạn về hạ giới. Cơn mưa cứu hạn làm cây cối tươi tốt, muôn loài nhảy múa chào đón anh em Cóc trở về. Từ đó hễ Cóc nghiến răng là trời lập tức đổ mưa; nên đồng dao của trẻ nhỏ ngàn năm vẫn có câu hát rằng:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Con Cóc là cậu ông Trời&lt;br /&gt;Ai mà đánh nó thì Trời đánh cho &lt;/em&gt;</description>
      <pubDate>07.09.2008 21:59</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=19</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Hòn vọng phu</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=20</link>
      <description>Ngày xưa, ở thị trấn Kinh Bắc có một người đàn bà goá chồng từ sớm, ngày ngày đi mò cua, bắt ốc để nuôi hai con, một trai, một gái. Trong khi mẹ chúng ra đồng, Tô Văn, đứa con trai độ mười tuổi và Tô Thị, con gái chừng tám tuổi, ở nhà tha hồ đùa nghịch với nhau, không ai kiềm chế nổi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một hôm, Tô Văn chơi ném đá, rồi không biết thế nào ném trúng ngay vào giữa đầu em. Tô Thị ngã vật xuống đất chết ngất đi, máu ra lênh láng. Tô Văn thấy thế sợ quá, chạy thẳng một mạch ra đường không còn dám ngoái cổ lại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;May sao, sau khi xảy ra tai nạn, một bà hàng xóm biết chuyện chạy sang cứu Tô Thị cầm được máu. Ðến khi người mẹ trở về thì con gái đã ngồi dậy được.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhưng còn Tô Văn thì biệt tăm, ngày một ngày hai cũng không thấy trở về, tìm khắp nơi mà không thấy. Người mẹ nhớ con trai, buồn phiền ngày một héo hon, chẳng bao lâu ốm nặng rồi qua đời, bỏ lại Tô Thị một mình. Ðứa con gái nhỏ được hai vợ chồng người láng giềng nhận đem về nuôi. Sau đó ít lâu, họ dời lên xứ Lạng để làm ăn nên đem Tô Thị đi theo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lớn lên, Tô Thị xinh đẹp lại nết na, siêng năng, nên rất được nhiều người để ý. Dành dụm được ít vốn, nàng xin phép bố mẹ cho nàng được mở một cửa hàng buôn bán, hai vợ chồng người hàng xóm thấy con mình đã trưởng thành nên đều ưng thuận. Học được nghề làm nem từ bố mẹ, Tô Thị liền mở cửa hàng nem ở hàng Cưa tại chợ Kỳ Lừa. Nàng làm nem rất khéo. Cửa hàng của nàng mỗi ngày một đông khách. Người ta đến thưởng thức nem ngon, nhưng cũng có người vừa thích nem lại vừa yêu bóng yêu gió nàng. Chiều khách thì thật là khéo chiều, nhưng nàng rất đứng đắn làm cho mọi người càng thêm vị nể.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thấm thoát Tô Thị đã hai mươi tuổi. Tuy có nhiều mối manh, nhưng nàng chưa thuận nơi nào.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một hôm, có một thanh niên tuổi ngoài hai mươi vẻ ngoài tuấn tú, đem thuốc Bắc từ Cao Bằng về Lạng Sơn bán. Nghe nói ở Hàng Cưa tại Kỳ Lừa có hàng nem ngon lại có chỗ cho trọ rộng rãi, chàng thanh niên liền tìm đến. Chàng thấy nem quả thật là ngon và cô bán hàng cũng thật tươi giòn. Biết cửa hàng một hai lần rồi cứ mỗi lần mang thuốc về Lạng Sơn bán, chàng lại đến hàng nem. Chàng thanh niên và Tô Thị trở nên thân thiết, trước còn mến nhau sau yêu nhau. Hai người lấy nhau được hơn một năm thì Tô Thị có mang sinh được một gái. Hai người yêu nhau rất mực. Lại thêm mụn con mối tình càng khăng khít.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một hôm người chồng về nhà, thấy vợ đang gội đầu ở ngoài hè. Anh bế con ngồi trên bậc cửa xem vợ gội đầu, kể đôi câu chuyện vặt cho vợ nghe. Chợt nhận thấy đầu vợ có cái sẹo to, anh nói:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Ðầu em có cái sẹo to, thế mà bây giờ anh mới biết.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Bây giờ anh mới biết à? Anh cho là xấu phải không? - Tô Thị hỏi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Có xấu gì đâu! Tóc che, có ai mà biết ! Em đau nhọt hay sao mà lại có cái sẹo to thế ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thấy chồng hỏi một cách vui vẻ, nhân vui câu chuyện. Tô Thị mới kể tỉ mỉ cho chồng nghe những gì xảy ra hồi còn bé. Trấn Kinh Bắc, nơi quê cũ, người anh đi mất tích, mẹ chết, theo vợ chồng người chủ quán lên xứ Lạng, rồi ở luôn ở đấy cho đến bây giờ. Câu chuyện càng đi sâu, người chồng càng lộ vẻ buồn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Biết bao đau thương buồn thảm. Chàng tự nhủ thầm : &quot;Sao mình không là một kẻ khác mà lại là Tô Văn. Thôi mình đã lấy lầm em ruột rồị&quot; Chàng hồi nhớ lại những ngày xa xăm, cái ngày chàng đã lỡ tay ném đá vào đầu em, tưởng em chết nên đã đi lang thang không dám trở về nhà, rồi được một người buôn thuốc bắc đem về nuôi ở Trùng Khánh, thuộc tỉnh Cao Bằng. Lớn lên, Văn theo họ bố nuôi là Lý. Chàng thường đem hàng xuống Lạng Sơn bán và chỉ ở đây một vài ngày là hết hàng. Ngoài con đường Lạng Sơn - Cao Bằng - Lạng Sơn chàng cũng không đi đến đâu cả. Hơn mười năm qua, chàng yên trí gia đình ở miền xuôi chắc không còn một ai nữa, quê cũ đối với chàng bây giờ như trong sương mù, không còn nghĩ về đó làm gì.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Văn nghĩ ngợi, rầu rĩ, nhưng Tô Thị mải chải đầu, quấn tóc, không để ý đến. Nàng vẫn vui vẻ, hồn nhiên, không biết chồng mình đang ở những phút buồn phiền ghê gớm. Thấy Tô Thị ngây thơ, vui vẻ như thế. Tô Văn càng không muốn cho nàng biết sự thực. Ai lại để cho một người em gái mình còn non trẻ như thế kia biết được một vụ loạn luân như thế bao giờ! Một việc loạn hôn không do ý hai người định, nhưng chàng quyết tâm giải quyết cho xong. Thôi hay lại đi biệt chuyến nữa, em gái mình trẻ trung, xinh đẹp dường ấy, làm gì chả lấy được một người chồng khác. Văn nghĩ thế, rồi anh tìm cách để đi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Giữa lúc tâm trạng Văn như thế thì có việc bắt lính thú. Anh xin đăng lính, không bàn với vợ nửa lời. Mãi đến lúc sắp lên đường, anh mới nói với vợ:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Anh đã đăng lính rồi, em ạ! Sớm mai lên đường. Ði chuyến này ba năm, có khi sáu năm mới về và cũng có khi lâu hơn. Em ở nhà nuôi con, còn về phần em, em cứ định liệu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tô Thị nghe chồng nói như sét đánh ngang tai, không hiểu sao đang sống yên vui với nhau mà chồng mình lại bỏ đi một cách quái gở như thế. Nàng khóc ấm ức, khóc hoài, khóc mãi không nói nửa lời. Còn Văn chỉ những bứt rứt âm thầm cho việc mình đi như vậy là giải thoát.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ ngày chồng đi rồi. Tô Thị chẳng thiết gì đến việc bán hàng, ngày ngày nàng bế con lên chùa Tam Thanh cầu cho chồng đi được bình yên, chóng đến ngày về lại cùng nhau sum họp. Nhưng ba năm qua, bốn năm qua, nàng cũng chẳng thấy chồng về. Có mấy kẻ cho là chồng nàng chết, muốn hỏi nàng về làm vợ, nhưng nàng nhất định chối từ. Có một tên kỳ hào có tiếng hống hách trong vùng muốn hỏi nàng làm vợ kế. Hắn có thế lực và rất tàn nhẫn. Nàng thương con còn thơ dại không dám chối từ ngay, sợ rước vạ vào thân chỉ tìm cách khất lần. Nhưng khất lần mãi cũng không được, nên cuối cùng nàng hẹn với lão một kỳ hạn, để sau này tìm mưu kế khác. &quot; Biết đâu đến ngày ấy chồng mình lại chả về!&quot; Nàng nghĩ thế. Rồi kỳ hạn cũng hết, nàng trông đợi chồng đến đỏ con mắt mà vẫn không thấy về cho. Nàng ôm con lên Chùa Tam Thanh kêu cầu. Hôm ấy, trời bỗng nổi cơn giông. Nàng nhớ chồng, thương thân, bế con ra ngoài chùa, trèo lên một mỏm đá cao chót vót nhìn về hướng chồng đi. Mây đen kéo đầy trời. Gió rít lên từng hồi qua khe đá. Mưa như trút nước. Chớp loé khắp núi. Nàng vẫn bế con đứng trơ trơ, đăm đăm nhìn về hướng chồng đi. Toàn thân quả núi rung chuyển dưới những luồng sét dọc ngang. Mưa mỗi lúc một lớn. Tô Thị vẫn bế con đứng trơ trơ trên mỏm đá cao chót vót.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sáng hôm sau, mưa tạnh, gió yên, mặt trời toả ánh sáng xuống núi rừng. Rất nhiều người dân xung quanh khi nhìn lên đỉnh núi thì đã thấy nàng Tô Thị bế con đã hóa đá từ bao giờ. Ngày nay hòn đá ấy vẫn còn ở tỉnh Lạng Sơn, gây cho khách tham quan nhiều nỗi vấn vương khi nhớ lại câu chuyện truyền kỳ éo le của một thời. Vẫn còn đó câu ca dao xưa :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Ðồng Ðăng có phố Kỳ Lừa&lt;br /&gt;Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh. &lt;/em&gt;</description>
      <pubDate>07.09.2008 22:00</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=20</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Bánh Dầy Bánh Chưng</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=21</link>
      <description>Ngày xưa, đời Vua Hùng Vương thứ 6, sau khi đánh dẹp xong giặc Ân, vua có ý định truyền ngôi cho con.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhân dịp đầu Xuân, vua mới họp các hoàng tử lại, bảo rằng: &quot;Con nào tìm được thức ăn ngon lành, để bày cỗ cho có ý nghĩa nhất, thì ta sẽ truyền ngôi vua cho&quot;.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các hoàng tử đua nhau tìm kiếm của ngon vật lạ dâng lên cho vua cha, với hy vọng mình lấy được ngai vàng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong khi đó, người con trai thứ 18 của Hùng Vương, là Tiết Liêu (còn gọi là Lang Lèo) có tính tình hiền hậu, lối sống đạo đức, hiếu thảo với cha mẹ. Vì mẹ mất sớm, thiếu người chỉ vẽ, nên ông lo lắng không biết làm thế nàọ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một hôm, Tiết Liêu nằm mộng thấy có vị Thần đến bảo: &quot;Này con, vật trong Trời Đất không có gì quý bằng gạo, vì gạo là thức ăn nuôi sống con ngườị Con hãy nên lấy gạo nếp làm bánh hình tròn và hình vuông, để tượng hình Trời và Đất. Hãy lấy lá bọc ngoài, đặt nhân trong ruột bánh, để tượng hình Cha Mẹ sinh thành&quot;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tiết Liêu tỉnh dậy, vô cùng mừng rỡ. Ông làm theo lời Thần dặn, chọn gạo nếp thật tốt làm bánh vuông để tượng hình Đất, bỏ vào chõ chưng chín gọi là Bánh Chưng. Và ông giã xôi làm bánh tròn, để tượng hình Trời, gọi là Bánh Dầỵ Còn lá xanh bọc ở ngoài và nhân ở trong ruột bánh là tượng hình cha mẹ yêu thương đùm bọc con cáị&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đến ngày hẹn, các hoàng tử đều đem thức ăn đến bày trên mâm cỗ. Ôi thôi, đủ cả sơn hào hải vị, nhiều món ngon lành. Hoàng tử Tiết Liêu thì chỉ có Bánh Dầy và Bánh Chưng. Vua Hùng Vương lấy làm lạ hỏi, thì Tiết Liêu đem chuyện Thần báo mộng kể, giải thích ý nghĩa của Bánh Dầy Bánh Chưng. Vua cha nếm thử, thấy bánh ngon, khen có ý nghĩa, bèn truyền ngôi Vua lại cho Tiết Liêu con trai thứ 18.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kể từ đó, mỗi khi đến Tết Nguyên Đán, thì dân chúng làm bánh Chưng và bánh Dầy để dâng cúng Tổ Tiên và Trời Đất. </description>
      <pubDate>07.09.2008 22:01</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=21</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Bà gái</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=45</link>
      <description>&lt;p&gt;&lt;font color=&quot;#333399&quot; size=&quot;3&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bà Gái là hàng xóm của tôi. Bà sống lầm lủi như một cái bóng và chẳng bao giờ trò chuyện cùng ai. Những vất vả của cuộc đời hằn sâu trên gương mặt khắc khổ của bà. Xung quanh chẳng ai để ý đến người đàn bà nghèo ấy. &lt;br /&gt;Sáng nay bà Gái đứng chờ tôi ở cửa. Bà nhờ tôi mang giúp quà tới điểm quyên góp ủng hộ đồng bào vùng lũ lụt. Mắt tôi nhòa đi: trong chiếc mùi xoa cũ kỹ của bà, vài đồng tiền lẻ được xếp gọn gàng bên cạnh một hộp dầu con hổ. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;font color=&quot;#333399&quot;&gt;Hoa Xuân&lt;/font&gt;&lt;/font&gt;&lt;/p&gt;</description>
      <pubDate>28.09.2008 03:50</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=45</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Cái cân thủy ngân</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=22</link>
      <description>Ngày xưa, có một nhà làm nghề buôn bán, gian tham chế ra một cái cân cán rỗng, trong đổ thủy ngân, hai đầu bịt đồng, không ai biết. Khi cân hàng bán cho người ta thì dốc cán về đằng móc, còn khi cân hàng mua của ai thì dốc cán cân về đằng quả. Như vậy một cái cân vừa nặng vừa nhẹ được, và bao giờ phần lợi cũng về mình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Không bao lâu nhà ấy trở nên giàu có, vì buôn bán lọc lừa. Nhà này sinh ra được hai đứa con mặt mũi khôi ngô, học hành thông thạo. Thiên hạ ai nấy đều khen là nhà có đại hồng phúc. Một hôm hai vợ chồng ngồi bàn với nhau: &quot;Nhà ta bây giờ đã giàu có nhiều, lại được hai đứa con khôn ngoan học giỏi. Bây giờ ta đem phá bỏ cái cân điên đảo kia đi, để dành đức lại cho con về sau&quot;.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bàn xong hai vợ chồng thuận tình làm lễ sám hối, trên thì cúng Phật, dưới cáo cùng tổ tiên, rồi đem cái cân ra chẻ. Khi chẻ ra, thì thấy trong cái cân có đọng một cục máu đỏ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ đó hai vợ chồng bảo nhau ăn ở tu nhân tích đức, tránh điều dữ, làm điều lành. Nhưng cách đó hai tháng, bỗng một hôm một đứa con lăn ra chết, rồi không bao lâu, đứa con còn lại cũng lăn ra chết nốt. Hai vợ chồng kêu gào khóc lóc thảm thiết, nghĩ rằng mình đã có bụng cải ác vi thiện mà Trời Phật không chứng quả. Rồi hai vợ chồng rầu rĩ khổ sở, cứ ngồi than dài thở vắn, không buồn động đến việc gì nữa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một đêm, hai vợ chồng cùng nằm mơ có ông Bụt đến bảo rằng: &quot;Vợ chồng hãy nên lo toan làm ăn tu tỉnh lại, chớ vội ngồi vậy mà trách Trời không có mắt. Trước Trời thấy chúng mày buôn bán lọc lừa, Trời đã sai hai con quỷ xuống đầu thai phá tan cho hết những của phi nghĩa chúng mày chắt bóp nhặt nhạnh bao nhiêu năm nay. May mà chúng mày sớm biết hối hận, cải tà quy chánh, tránh dữ làm lành, Trời mới sai bắt hai con quỷ ấy về. Đừng thương tiếc chúng nó làm chi nữa. Chúng mày cứ ăn ở ngay lành rồi Trời lại đền cho hai đứa con khác để ngày sau mà nhờ&quot;.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hai vợ chồng biết thế, không thương khóc con nữa, lại làm ăn như cũ, và lúc nào cũng tâm tâm niệm niệm, cố gắng làm bao nhiêu điều từ thiện, phúc đức. Quả nhiên sau lại sinh được hai đứa con trai khác. Hai đứa con hiền lành tử tế, văn hay chữ tốt, rồi sau lớn lên, làm cho cha mẹ được vẻ vang sung sướng trong cảnh già.&lt;br /&gt;</description>
      <pubDate>07.09.2008 22:02</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=22</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Chử Đồng Tử</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=23</link>
      <description>Ngày xưa, vua Hùng Vương thứ ba có một người con gái nhan sắc như tiên, đặt tên là Tiên Dung. Tiên Dung rất đẹp, song tự nguyện không lấy chồng, chỉ ham thích phong cảnh, thường đi du lịch khắp nơi trong nước. Được vua cha nuông chiều, mỗi năm vào độ mùa xuân Tiên Dung ngồi thuyền du ngoạn, có khi ra tận ngoài biển, lắm lúc mê cảnh đẹp quên về.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thuở ấy, ở làng Chử Xá (thuộc tỉnh Hưng Yên ngày nay) có người tên là Chử Cù Vân và con trai tên là Chử Đồng Tử. Hai cha con thương mến nhau rất thắm thiết. Nhà họ Chử vốn nghèo lại càng thêm sa sút sau một trận cháy, trong nhà chỉ còn mỗi một chiếc khố. Hai cha con phải thay phiên nhau mà mặc mỗi khi ra ngoài. Khi người cha bị bệnh nặng sắp mất, dặn con giữ khố lại, còn cứ chôn mình xác trần. Chử Đồng Tử không nỡ để cha chết trần truồng, dùng chiếc khố độc nhất liệm cha mà đem chôn. Từ đó Chử Đồng Tử không có gì che thân, đợi đến đêm mới đi ra câu cá, ban ngày thì dầm nửa người dưới nước, đến gần thuyền để bán cá hoặc xin ăn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một hôm, thuyền rồng chở công chúa Tiên Dung đến vùng đó. Nghe tiếng chuông trống, đàn sáo lại thấy cờ quạt, người hầu rầm rộ, Chử Đồng Tử hoảng sợ, chui vào bụi lau ở bãi cát bờ sông, nấp mình xuống đó rồi phủ cát lên che người.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thuyền rồng ghé vào bờ, Tiên Dung lên chơi trên bãi, thấy cảnh thanh tú, sai người hầu quây màn ở bụi lau để làm nơi cho mình tắm, đúng ngay vào chỗ Chử Đồng Tử nấp. Đến khi Tiên Dung xối nước, cát trôi để lộ thân hình trần truồng của người trai lạ. Nàng ngạc nhiên hỏi chuyện mới rõ tình cảnh của Chử Đồng Tử, nghĩ ngợi bảo chàng:&lt;br /&gt;&quot;Tôi đã định không lấy chồng, nay tình cờ gặp anh thế này, chắc do là trời xui khiến. Anh dậy mà tắm rửa đi!&quot;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rồi Tiên Dung lấy quần áo trao cho Chử Đồng Tử mặc để cùng xuống thuyền ăn uống. Người ở trên thuyền hiểu chuyện, cho là một cuộc gặp gỡ lạ lùng. Tiên Dung nghĩ là duyên tiền định, đòi kết làm vợ chồng. Chử Đồng Tử cho là phận mình thấp hèn, không dám nhận lời, Tiên Dung nói:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&quot;Đây là do trời tác hợp, sao anh lại từ chối&quot;?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rồi hôn lễ giữa nàng công chúa với anh chàng trần như nhộng cử hành ngay trên sông.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tin đưa về kinh đô, Hùng Vương giận dữ nói với triều thần: &quot;Con gái ta không kể danh tiết, hạ giá lấy kẻ nghèo hèn, còn mặt mũi nào mà trông thấy ta nữạ Từ nay mặc cho nó muốn đi đâu thì đi, không được về cung&quot;. Tiên Dung biết vua cha tức giận, sợ không dám về, bèn cùng chồng mở chợ Hà Thám, đổi chác với dân gian. Lâu dần mở mang thành chợ lớn, gọi là chợ Hà Thám, có phố xá khách buôn nước ngoài lui tới giao thương ngày càng phồn thịnh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một hôm có khách buôn bán đến rủ Tiên Dung đem vàng cùng ra nước ngoài mua hàng về bán sẽ có lãi tọ Tiên Dung mới bảo chồng rằng: &quot;Chúng ta lấy nhau là do trời định, cơm áo cũng do trời cho. Vậy việc này âu cũng là trời xui khiến, chúng ta nên làm&quot;.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chử Đồng Tử bèn cùng khách buôn nọ ra đị Đến một hòn núi giữa biển gọi là núi Quỳnh Tiên, thuyền ghé lấy nước ngọt, Chử Đồng Tử vui chân trèo lên cái am nhỏ trên núi gặp một đạo sĩ trẻ tên là Phật Quang. Chuyện trò ý hợp tâm đầu, Chử Đồng Tử theo lời Phật Quang giao vàng nhờ khách buôn đi mua hàng còn mình thì ở lại đây học đạo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đến khi thuyền trở lại, Chử Đồng Tử theo về đất liền. Khi từ giã, Phật Quang tặng Chử Đồng Tử một cái gậy, một cái nón và bảo:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&quot;Đây là vật thần thông&quot;.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về đến nhà Chử Đồng Tử truyền đạo lại cho vợ. Tiên Dung giác ngộ bèn bỏ việc buôn bán để cùng chồng đi tìm thày học đạo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một hôm trời tối, hai vợ chồng đi đã mệt mà chưa thấy nhà cửa đâu, mới dừng bước lại, cầm gậy che nón nằm dưới mà nghỉ. Vào khoảng nửa đêm, tự nhiên chỗ ấy nổi lên thành quách, cung điện bằng châu ngọc và kho tàng đầy đủ của cải, màn gấm chiếu hoa, không thiếu một thứ gì. Lại thêm tiên đồng ngọc nữ, tướng sĩ lính hầu xum xít quanh hai vợ chồng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sáng hôm sau, dân ở quanh vùng đều lấy làm kinh dị, mang hương hoa thực phẩm đến xin làm tôị Họ vào thành thấy các quan văn võ, lính tráng tấp nập đông đảo như một nước riêng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hùng Vương được tin báo cho là con gái làm loạn, vội phái quân đi đánh. Đoàn quân sĩ nhà vua gần tới nơi, bộ hạ Tiên Dung xin ra chống cự, nàng cười mà bảo rằng:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&quot;Tất cả mọi việc đều do ở trời chứ không phải tự tạ Ta đâu dám cự lại phụ vương. Sống hay chết đều nhờ ở trời, dẫu ta có bị phụ vương giết cũng không dám oán hận&quot;.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trời đã tối, quân của Hùng Vương không kịp tấn công, dừng lại đóng ở bãi Tự Nhiên, cách đối phương một con sông lớn. Đến nửa đêm trời bỗng nổi bão, sóng gió cuồn cuộn, nhổ cây ở bãi, đại quân của Hùng Vương rối loạn. Trong chốc lát thành quách cung điện và bộ hạ của hai vợ chồng Tiên Dung đều bay cả lên trờị Sáng hôm sau, người ta kinh dị thấy chỗ đó đã hóa thành một cái đầm lớn. Dân chúng bèn lập đền thờ để cúng tế hàng năm, gọi đầm ấy là đầm Nhất Dạ (Một đêm), thuộc phủ Khoái Châu (Hưng Yên).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về sau, Triệu Quang Phục chống nhau với quân nhà Lương, lấy đầm này làm chỗ ẩn nấp để đánh nhau trong mấy năm trờị Đêm đêm quân của Quang Phục cỡi thuyền độc mộc tiến ra đánh úp làm cho quân giặc mỗi ngày một hao tổn. Một hôm Quang Phục lập đàn cầu thần phù hộ, bỗng thấy Chử Đồng Tử cỡi rồng giáng xuống hứa giúp diệt giặc, rồi trao cho Quang Phục một chiếc móng rồng bảo gắn vào mũ để làm bùa thiêng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trận đó quả nhiên đại thắng, Quang Phục giết được tướng nhà Lương, quân giặc tan vỡ. Họ Triệu tự lập làm vua, tức là Triệu Việt Vương.</description>
      <pubDate>07.09.2008 22:04</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=23</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Chuột Và Mèo</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=24</link>
      <description>Đời xưa, chuột vốn là một giống linh thiêng ở trên Trờị Trời giao cho nó giữ chìa khóa kho lúa của Trờị Nhưng chuột không phẳi là một loài đaqng tin cẩn, nhân được giữ chìa khóa, cứ tự do đến mở kho rủ nhau vào ăn rả rích hết bao nhiêu là lúạ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau Trời biết, lấy làm giận lắm, mới không cho ở trên ấy nữa, mà đuổi xuống dưới hạ giới để săi giữ chìa khóa lẫm thóc của nhân gian.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhưng chứng nào tật ây, chuột lại rủ nhau vào lẫm thóc của người rả rích ănêê. Đến nỗi người phải có câu than rằng:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&quot;Chuột kia xưa ở nơi nào ?&lt;br /&gt;Bây giờ ăn lúa nhà tao thế này ?&quot;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người lấy làm chua sót, mới kêu với vua Bếp. Vua Bếp liền bắt nó đem lên trả Trơi và tâu rằng:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Chuột này vốn chuộtä của Thiên Đình, sao Thiên Đình lại thả nó xuống hạ giới ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trời nói:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Ừ, trước nó ở trên này giữ chìa khoá kho thóc cho tạ Nhưng bởi nó ăn vụng lúa của ta nhiều lắm nên ta không cho nó ở trên này, ta đuổi nó xuống hạ giới cho nó giữ lúa ở dưới ấỵ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vua Bếp tâu:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Nó xuống dưới ấy nó lại ăn vụng lúa hại lắm. Bẩm,chúng con thiết nghĩ: luá của Trời nhiều, lúa của người ít, của Trời nó ăn không hết chớ của người nó cứ ăn mãi, thì có ngày hết cả, người đến chết đói mất. Vậy xin bây giờ lại cho nó lên trên Trời là phảị&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trời nghe tâu phán rằng:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Không được. Ta đã đuổi nó đi cho xa, ta không thể cho nó lại lên đây nữạ Thôi bây giờ có mộ cách: Ta có một con mèo, ta cho chú đem xuống hạ giới để khi nào chuột nó ăn lúa của nhân gian thì thả mèo ra cho nó bắt chuột, rồi gầm gừ ăn chuột đi, còn khi nào nó không muốn bắt chuột, thì chú bảo con mèo cứ kêu với con chuột rằng: &quot;Nghèo, nghèo, nghèo&quot;, thì chuột nó cũng sợ mà nó phải bỏ đị&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vua Bếp lạy tạ, rồi lại đem chuột va đem cả mèo xuống hạ giớị Rồi cứ theo như lời dậy mà làm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thành tự bấy giờ khi nào mèo rình băùt được chuột, rồi mèo cứ &quot;gầm gừ, gầm gừ&quot; và khi nào không bắt được chuột thì mèo ngồi kêu:&quot;nghèo, nghèo, nghèo, nghèo&quot;...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhưng lúc ấy, mèo hồi nghĩ lại, mới lấy làm giận vua Bếp, vì tại vua Bếp mèo mới phải xuống dương gian. Nhưng không làm gì nổi vua Bếp, mèo chỉ còn cách thỉnh thoảng vào giữa đống tro bếp mèo để phóng uế.</description>
      <pubDate>07.09.2008 22:05</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=24</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Con Công Và Con Quạ</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=25</link>
      <description>Xưa con công với con quạ làm bạn với nhau thân lắm, vì hai con cùng xấu cả. Một hôm công và quạ ngồi nói chuyện với nhau, Quạ bảo công&lt;br /&gt;rằng:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Thử xem, các giống chim trên rừng, trên núi, giống nào cũng đẹp. Này như: con phượng hoàng, cái mình nó quý giá biết bao, đến nỗi người ta thường khen: &quot;Một cái lông con phượng hoàng bằng cả một làng chim chích&quot;. Còn như con hạc, cái hình, cái dạng, cái chân, cái tóc nó thanh tao biết bao, để cho người ta phải nói:&quot; Hạc đứng chầu Vua &quot;Nghìn năm tóc bạc, tuổi rùa càng xinh&quot;. Con` như anh em ta đây! than ôi! thân hình thật không còn giống nào xấu bằng nữạ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Công nói:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Phận xấu đành vậy, chớ biết làm sao bây giờ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quạ nghĩ một lúc rồi bàn rằng:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Xấu mà làm ra đẹp, cũng được chớ gì! Bây giờ hai đứa ta thử tô điểm vẽ vời lẫn cho nhau xem có đẹp hay không?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Công bằng lòng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quạ bèn tô điểm, vẽ vời cho công trước. Quả nhiên cái mình, cái đuôi công lóng l&#039;anh, có bao nhiêu màu sắc đẹp, đẹp hơn những giống chim khac&#039; nhiềụ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đến lượt công ngồi tô điểm, vẽ vời cho quạ, thì chợt nghe tiếng ríu rít, biết bao nhiêu chim con ở phía đông bay lạị&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quạ liền hỏi :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Các bạn đi đâu mà kéo đàn, kéo lũ như thế?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đàn chim nói:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Chúng tôi nghe đồn ở dưới phương nam có thật nhiều gạo, nhiều gà, và rất nhiều đồ ăn ngon khác.... Chúng tôi rủ nhau đi kiếm ăn&lt;br /&gt;đâỵ Anh làm gì đấỷ... Hay ta cùng đi một thể&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quạ nghe nói, trong lòng háo hức muốn đi theo đàn chim kia ngay lập tức. Quạ mới nói với công rằng:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Bây giờ mà tôi ngồi đợi để cho anh tô điểm vẽ vời, thì chưa biết đến bao giờ mới xong. Thôi, hay sẵn cả đĩa mực đây, anh cứ cầm thế mà đổ lên mình tôi để tôi đi theo bọn kia, kẻo lỡ mất một dịp may kiếm ăn tốt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Công thấy quạ bảo thế, chiều ý làm theo, cầm cả đĩa mực dốc vào mình quạ . Thành bao nhiêu lông cánh của quạ toàn một màu đen như mực.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quạ bay đi kiếm ăn không còn nghĩ gì đến xấu với đẹp nữạ Nhưng đến lúc ăn no trở về, quạ thấy con cò trắng muốt bay qua trông thấy nó mà cườị Quạ tức lắm...bèn ngắm lại mình thì ôi thôị..Quạ thấy mình đen thui thủi, thiệt xấu xí, thẹn quá bèn bay đi trốn..&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ đó, không ai còn thấy quạ đâu nữạ..trừ nơi hoang dã vắng vẻ&lt;br /&gt; </description>
      <pubDate>07.09.2008 22:06</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=25</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Công Chúa Thủy Cung</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=26</link>
      <description>Ngày xưa, có một nàng công chúa xinh đẹp con của Thuỷ Tề (vua của Sông Biển), một hôm hoá thành con cá bơi ngược dòng sông để du ngoạn. Chẳng may, cá mắc phải lưới của một người thuyền chàị Cá công chuá bị bắt, thả vào gầm thuyền, bị đói cả ngày không có gì ăn. May có người con trai ông thuyền chài ngồi ăn làm rớt cơm xuống, cá công chúa mới khỏi chết đóị&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trông thấy cô cái xinh đẹp, người con trai chủ thuyền bắt lên chơị Rồi anh tuột tay làm rơi cá xuống sông. Nhờ vậy, công chúa được trở về thuỷ cung an toàn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy nhiên, từ ngày trở về cung điện, công chuá đâm ra tưởng nhớ đến người con trai ở trần gian đã vô tình cứu mình. Công chuá sinh ra ốm bệnh tương tự Vua cha là Thủy Vương hỏi duyên cớ, công chuá thật tình thưa lại đầu đuôi câu chuyện, rồi xin phép vua cha đội lốt làm người lên ở trên mặt đất để kết duyên vợ chồng cùng chàng trai kiạ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lúc bấy giờ, chàng trai này đang ở Hang Non Nước, thuộc về tỉnh Ninh Bình ngày naỵ Sau khi cha mẹ đã mất, chàng ngày ngày đi câu cá để sống. Một hôm, nàng công chuá Thủy Cung tìm đến gặp, làm quen, rồi 2 bên lấy nhaụ Vợ chồng tuy sống trong cảnh nghèo túng, nhưng rất hạnh phúc, hết sức thương yêu nhaụ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chàng và nàng sống giữa hòn đảo Non Nước vắng vẻ, cách biệt đời sống dân gian. Vợ chồng có tình duyên đằm thắm, cho đến ngày kia, thì nàng đưa chồng cùng về thăm Thuỷ Cung. Từ đó biền biệt, không còn ai thấy 2 người nữạ Dân gian ngày nay có truyền câu ca dao:&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;/em&gt;&lt;div align=&quot;center&quot;&gt;&lt;em&gt;&quot;Chung quanh những chị em người&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Giữa Hòn Non Nước mình tôi với chàng&quot;&lt;/em&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;để nhắc đến mối tình hi hữu của nàng công chúa con của Thần Nước, với anh chàng đánh cá ở miền Bắc Việt Nam.</description>
      <pubDate>07.09.2008 22:08</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=26</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Lạc Long Quân và Âu Cơ</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=27</link>
      <description>Cách đây lâu đời lắm, ở Lĩnh Nam có một thủ lĩnh tên là Lộc Tục, hiệu là Kinh Dương Vương, sức khoẻ tuyệt trần, lại có tài đi lại dưới nước như đi trên cạn. Một hôm, Kinh Dương Vương đi chơi hồ Ðộng Ðình, gặp Long Nữ là con gái Long Vương, hai người kết thành vợ chồng và ít lâu sau sinh được một trai, đặt tên là Sùng Lâm. Lớn lên Sùng làm rất khoẻ, một tay có thể nhấc bổng lên cao tảng đá hai người ôm. Cũng như cha, Sùng Lâm có tài đi lại dưới nước như đi trên cạn. Khi nối nghiệp cha, chàng lấy hiệu là Lạc Long Quân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lúc bấy giờ ở đất Lĩnh Nam còn hoang vu, không một nơi nào yên ổn, Lạc Long Quân quyết chí đi du ngoạn khắp nơi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðến vùng bờ biển Ðông Nam, Lạc Long Quân gặp một con cá rất lớn. Con cá này đã sống từ lâu đời, mình dài hơn năm mươi trượng, đuôi như cánh buồm, miệng có thể nuốt chửng mười người một lúc. Khi nó bơi thì sóng nổi ngất trời, thuyền bè qua lại đề bị nó nhận chìm, người trên thuyền đều bị nó nuốt sống. Dân chài rất sợ con quái vật ấy. Họ gọi nó là Ngư tinh. Chỗ ở của Ngư tinh là một cái hang lớn ăn sâu xuống đáy biển, trên hang có một dãy núi đá cao ngăn miền duyên hải ra làm hai vùng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lạc Long Quân quyết tâm giết loài yêu quái, trừ hại cho dân, Lạc Long Quân đóng một chiếc thuyền thật chắc và thật lớn, rèn một khối sắt có nhiều cạnh sắc, nung cho thật đỏ, rồi đem khối sắt xuống thuyền chèo thẳng đến Ngư Tinh, Lạc Long Quân giơ khối sắt lên giả cách như cầm một người ném vào miệng cho nó ăn. Ngư Tinh há miệng đón mồi. Lạc Long Quân lao thẳng khối sắt nóng bỏng vào miệng nó. Ngư Tinh bị cháy họng vùng lên chống cự, quật đuôi vào thuyền của Lạc Long Quân. Lạc Long Quân liền rút gươm chém Ngư Tinh làm ba khúc. Khúc đầu hoá thành con chó biển. Lạc Long Quân lấy đá ngăn biển chặn đường giết chết con chó biển, vứt đầu lên một hòn núi, nay gọi hòn núi ấy là Cẩu Ðầu Sơn, khúc mình của Ngư Tinh trôi ra xứ Mạn Cẩu, nay còn gọi là Cẩu Ðầu Thủy, còn khúc đuôi của Ngư Tinh thì Lạc Long Quân lột lấy da đem phủ lên hòn đảo giữa biển, đảo ấy nay còn mang tên là Bạch Long Vĩ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trừ xong nạn Ngư Tinh, Lạc Long Quân đến Long Biên. Ở đây có con cáo chín đuôi sống đến hơn nghìn năm, đã thành tinh. Nó trú trong một hang sâu, dưới chân một hòn núi đá ở phía Tây Long Biên. Con yêu này thường hóa thành người trà trộn trong nhân dân dụ bắt con gái đem về hang hãm hại. Một vùng từ Long Biên đến núi Tản Viên, đâu đâu cũng bị Hồ Tinh hãm hại. Nhân dân hai miền rất lo sợ, nhiều người phải bỏ cả ruộng đồng, nương rẫy, kéo nhau đi nơi khác làm ăn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lạc long quân thương dân, một mình một gươm đến sào huyệt Hồ tinh, tìm cách diệt trừ nó. Khi Lạc Long Quân về đến tới cửa hang, con yêu tinh thấy bóng người, liền xông ra, Lạc Long Quân liền hoá phép làm mưa gió, sấm sét vây chặt lấy con yêu. Giao chiến luôn ba ngày ba đêm, con yêu dần dần yếu sức, tìm đường tháo chạy, Lạc Long Quân đuổi theo chém đứt đầu nó. Nó hiện nguyên hình là một con cáo khổng lồ chín đuôi. Lạc Long Quân vào hang cứu những người còn sống sót, rồi sai các loài thủy tộc dâng nước sông Cái, xoáy hang cáo thành một vực sâu, người đương thời gọi là đầm Xác Cáo, đời sau mới gọi là Tây Hồ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dẹp yên nạn Hồ Tinh nhân dân quanh vùng lại trở về cày cấy trên cánh đồng ven hồ, và dựng nhà lập xóm trên khu đất cao nhất gọi là làng Hồ, đến nay vẫn còn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thấy dân vùng Long Biên đã được yên ổn làm ăn Lạc Long Quân đi ngược lên vùng rừng núi đến đất Phong Châu. Ở vùng này có một cây cổ thụ gọi là cây chiên đàn, cao hàng nghìn trượng, trước kia cành lá sum suê tươi tốt che kín cả một khoảng đất rộng, nhưng sau nhiều năm, cây khô héo, biến thành yêu tinh, người ta gọi là Mộc Tinh. Con yêu này hung ác và quỷ quyệt lạ thường. Chỗ ở của nó không nhất định, khi thì ở khu rừng này, khi thì ở khu rừng khác. Nó còn luôn luôn thay hình đổi hạng ẩn nấp khắp nơi, dồn bắt người để ăn thịt. Ði đến đâu cũng nghe thấy tiếng khóc than thảm thiết, Lạc Long Quân quyết ra tay cứu dân diệt trừ loài yêu quái. Lạc Long quân phải luồn hết rừng này đến rừng kia và qua nhiều ngày gian khổ mới tìm thấy chỗ ở của con yêu. Lạc Long Quân giao chiến với nó trăm ngày đêm, làm cho cây long đá lở, trời đất mịt mù mà không thắng được nó. Cuối cùng Lạc Long Quân phải dùng đến những nhạc cụ như chiêng, trống làm nó khiếp sợ và chạy về phía Tây Nam, sống quanh quất ở vùng đó, người ta gọi là Quỷ Xương Cuồng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Diệt xong được nạn yêu quái, Lạc Long Quân thấy dân vùng này vẫn còn đói khổ thiếu thốn, phải lấy vỏ cây che thân, tết cỏ gianh làm ổ nằm bèn dạy cho dân biết cách trồng lúa nếp, lấy ống tre thổi cơm, đốn gỗ làm nhà sàn để ở, phòng thú dữ. Lạc Long Quân còn dạy dân ở cho ra cha con, vợ chồng. Dân cảm ơn đức ấy, xây cho Lạc Long Quân một toà cung điện nguy nga trên một ngọn núi cao. Nhưng Lạc Long Quân không ở, thường về quê mẹ dưới thủy phủ và dặn dân chúng rằng: &quot;Hễ có tai biến gì thì gọi ta, ta sẽ về ngay! &quot;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lúc bấy giờ có Ðế Lai từ phương Bắc đem quân tràn xuống phương Nam. Ðế Lai đem theo cả người con gái yêu rất xinh đẹp của mình là Âu Cơ và nhiều thị nữ. Thấy Lĩnh Nam phong cảnh tươi đẹp, lại nhiều chim muông, nhiều gỗ quý. Ðế Lai sai quân dựng thành đắp lũy định ở lâu dài. Phải phục dịch rất cực khổ, nhân dân chịu không nổi, hướng về biển Ðông gọi to: &quot;Bố ơi! Sao không về cứu dân chúng con!&quot;. Chỉ trong chớp mắt, Lạc Long Quân đã về.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhân dân kể chuyện, Lạc Long Quân hóa làm một chàng trai rất đẹp, có hàng trăm đầy tớ theo hầu, vừa đi vừa hát đến thẳng chỗ Ðế Lai ở. Lạc Long Quân không thấy Ðế Lai đâu cả, mà chỉ thấy một cô gái nhan sắc tuyệt trần cùng vô số thị tỳ và binh lính. Cô gái xinh đẹp đó là Âu Cơ. Thấy Lạc Long Quân uy nghi tuấn tú nàng đem lòng say mê, xin đi theo Lạc Long Quân. Lạc Long Quân đưa Âu Cơ về ở trong cung điện của mình, trên núi cao. Ðế Lai về, không thấy con gái đâu, liền sai quân lính đi tìm khắp nơi, hết ngày này qua ngày khác. Lạc Long Quân sai hàng vạn các ác thú ra chặn các nẻo đường, xé xác bọn chúng làm cho chúng khiếp sợ bỏ chạy. Ðế Lai đành thu quân về phương bắc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lạc Long Quân ở với Âu Cơ được ít lâu thì Âu Cơ có mang, sinh ra một cái bọc. Sau bảy ngày cái bọc nở ra một trăm quả trứng. Mỗi trứng nở ra một người con trai. Trăm người con trai đó lớn lên như thổi, tất cả đều xinh đẹp khoẻ mạnh và thông minh tuyệt vời.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hàng chục năm trôi qua, Lạc Long Quân sống đầm ấm bên cạnh đàn con, nhưng lòng vẫn nhớ thủy phủ. Một hôm Lạc Long Quân từ giã Âu Cơ và đàn con, hóa làm một con rồng vụt bay lên mây, bay về biển cả. Âu Cơ và đàn con muốn theo Lạc Long Quân, nhưng không đi được, buồn bã ở lại trên núi. Hết ngày này qua ngày khác, họ mỏi mắt trông chờ mà vẫn biền biệt tăm hơi. Không thấy Lạc Long Quân trở về, nhớ chồng quá, Âu Cơ đứng trên ngọn núi cao hướng về biển Ðông lên tiếng gọi: &quot;Bố nó ơi! Sao không về để mẹ con chúng tôi sầu khổ thế này&quot;.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lạc Long Quân trở về tức khắc. Âu Cơ trách chồng:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Thiếp vốn sinh trưởng ở núi cao, động lớn, ăn ở với chàng sinh được trăm trai, thế mà chàng nỡ lòng bỏ đi, để mặc con thiếp sống bơ vơ khổ não.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lạc Long Quân nói:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Ta là loài rồng, nàng là giống tiên, khó ở với nhau lâu dài. Nay ta đem năm mươi con về miền biển, còn nàng đem năm mươi con về miền núi, chia nhau trị vì các nơi, kẻ lên núi, người xuống biển, nếu gặp sự nguy hiểm thì báo cho nhau biết, cứu giúp lẫn nhau, đừng có quên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hai người từ biệt nhau, trăm người con trai tỏa đi các nơi, trăm người đó trở thành tổ tiên của người Bách Việt. Người con trưởng ở lại đất Phong Châu, được tôn làm vua nước Văn Lang lấy hiệu là Hùng Vương. Vua Hùng chia ra làm mười năm bộ, đặt tướng văn, võ gọi là lạc hầu, lạc tướng. Con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mỵ Nương. Ngôi vua đời đời gọi chung một danh hiệu là Hùng Vương.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lạc Long Quân là người mở mang cõi Lĩnh Nam, đem lại sự yên ổn cho dân. Vua Hùng là người dựng nước, truyền nối được mười tám đời. Do sự tích Lạc Long Quân và Âu Cơ, nên dân tộc Việt Nam vẫn kể mình là dòng giống Tiên Rồng.</description>
      <pubDate>07.09.2008 22:09</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=27</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Con tằm</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=28</link>
      <description>Ngày xưa, có một người con gái tên là Tơ cha mẹ đều mất sớm, phải đem thân đi ở hầu hạ một bà góa giàu có. Tánh tình của bà chủ nhà ác nghiệt quá đỗi khiến một hôm thị Tơ phải bỏ trốn đi, chạy vào một khu rừng, nghĩ bụng thà chết vào miệng thú dữ còn hơn là ở mãi trong cảnh khốn khổ bị hành hạ hàng ngày. Thị Tơ đi được một quãng khá xa, phần bấy lâu nay ăn uống thiếu thốn đuối sức, phần vất vả băng rừng lội suối, nên ngã ngất nằm trên một tảng đá.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thần núi ở đấy thấu rõ tình cảnh đáng thương của cô gái hiền lành thơ ngây mới theo dõi che chở.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi thị Tơ bừng mắt tỉnh dậy tưởng chừng mình như vừa qua một giấc chiêm bao. Cảnh vật chung quanh khác hẳn lúc nàng ngất đi. Nàng thấy mình nằm ở trong một cái động, rêu trải mềm dịu như nhung, dưới chân một giòng suối đang chảy qua kẽ đá êm đềm như tiếng nhạc. Trước mắt nàng, vừa tầm tay với, vô số những trái cây ngon chín thắm lủng lẳng ở dây leo buông xuống như rèm che cửa động. Đang đói khát sẵn, nàng đưa tay lên hái ăn ngấu nghiến ngon lành.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau bữa ăn thanh đạm ấy, trong người nàng cảm thấy khỏe nhẹ khác thường. Thần núi hiện hình một ông lão râu tóc bạc phơ, tay chống gậy trúc bước đến gần nàng. Trông thấy cụ già phúc hậu, thị Tơ vái chào kính cẩn. Ông lão làm ra vẻ ngạc nhiên, hỏi nàng ở đâu đến đây, làm sao lạc lõng một mình giữa rừng núi hoang vắng. Thị Tơ chân thành kể lại đầu đuôi mọi nỗi về kiếp sống đầy đọa của mình. Ông lão lắc đầu tội nghiệp cho nàng rồi khuyên nhủ:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Cháu trốn như vậy là phải. Cháu cứ ở lại đây, có lẽ được yên thân hơn, có lão trông chừng cho.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Thưa cụ, cụ là ân nhân của cháu, xin cụ cho cháu được biết cụ ở đâu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Cả khu rừng núi này là nhà của lão. Lão sống bằng nghề đốn củi, nên nay đây mai đó luôn. Cháu đừng lo ngại, thỉnh thoảng có lão lại thăm. Nếu có việc gì cần đến lão, cháu cứ tới mỏm đá này gọi &quot;Ông tiều ơi&quot; là có lão đến ngay.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sáng hôm sau, ông lão trở lại cho thị Tơ một bọc quần áo mới để thay bộ đồ cũ rách nát. Từ đó, thị Tơ sống một cuộc đời thanh thản, tự do, không phải lo đến ngày mai, không buồn rầu nghĩ đến ngày qua. Dần dần chim chóc, các thú trong rừng đến làm quen với nàng, ngày ngày mang lại cho những trái cây ngon ngọt, quý lạ để dùng làm thức ăn. Sống như thế, nhan sắc thị Tơ ngày một rạng rỡ như đóa hoa rừng đang độ tốt tươi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào thuở bấy giờ, ở Thượng giới có một vị thần đam mê khoái lạc, sau khi biến cõi thiên đình thành một chốn trác táng rồi chán những lạc thú trên trời, thần tìm xuống trần gian. Nhờ phép tắc siêu phàm, vị thần biến hóa ra đủ mọi hình dạng để cám dỗ đàn bà con gái nhan sắc. Từ giới thượng lưu cho đến bình dân, thần hiện ra khắp nơi, khi là vị quan trẻ đẹp, tài hoa lỗi lạc, khi là một thanh niên tuấn tú, phong nhã, đa tình, để lôi cuốn bao nhiêu người đẹp vào trong vòng sắc dục. Không một người đàn bà, con gái nào bị để ý đến mà tránh khỏi sức thu hút của thần để khỏi rơi vào vòng đam mê. Thần đã chán chê khoái lạc trong giới thượng lưu xa hoa, một hôm đi tìm lạc thú ở nơi thôn dã, qua khu rừng vắng, không một bóng người, tình cờ gặp cô gái rừng xanh đang nô đùa với bầy chim cùng muông thú. Sau phút sững sờ trước sắc đẹp của thị Tơ, lòng dục bùng cháy lên, thần mon men rẽ lá tiến lại định vồ lấy người đẹp. Một tiếng chim kêu thất thanh, cả cô gái cùng muông thú vội vàng bỏ chạy trước người lạ, thần ra sức đuổi theo. Thị Tơ quen sống giữa thiên nhiên đã trở nên nhanh nhẹn khác thường, chạy đi như gió, thần bèn giở phép phóng theo. Trong lúc thần sắp chụp được thì con nai lớn đến quỳ xuống cho thị Tơ leo lên lưng mà thoát khỏi tay dâm thần.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nai đưa tới động, thị Tơ sợ hãi không dám bước ra ngoài nữa. Nàng trèo lên mỏm đá, gọi &quot;Ông tiều ơi&quot; ba lần thì thấy ông lão hiện ra. Ông lão căn dặn nàng cẩn thận và trao cho nàng một chiếc vòng ngọc, đeo vào tay có thể muốn tàng hình lúc nào cũng được. Nhờ thế mà nàng tránh khỏi sự săn đón của vị thần muốn chiếm đoạt nàng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thấy công đeo đuổi của mình không có kết quả, thua trí một sơn nữ, thần nổi giận thề quyết bắt nàng cho kỳ được. Nhờ phép siêu phàm, thần giăng một sợi lưới rộng lớn với những sợ chỉ thật nhỏ và thật chắc bao vây cả khu rừng. Cô gái không dè nên bị mắc vào lưới, may nhờ một con bạch tượng dùng ngà đâm thủng, cứu thoát nàng một lần nữa. Nàng gọi đến ông tiều. Ông lão lão hiện ra khuyên nàng lần sau có bị vướng lưới thì kêu đến tên Phật Bà Quan Âm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vì sợ mắc bẫy nên đã lâu thị Tơ không dám ra khỏi động. Nhưng rồi lòng ham muốn tự do chạy nhảy lại thúc giục nàng đi. Lần này nàng hướng về phía khác để tránh sự theo dõi của vị thần si tình. Song nhờ phép thần thông, vị thần biết được giờ nàng đi và nơi nàng đến, nên giăng lưới trước bắt được. Nhớ lời ông lão dặn, nàng kêu đến tên Phật Bà Quan Âm, thì nhiệm màu thay, tất cả các sợi chỉ lưới đều rút gọn lại thu tròn bằng một hạt đậu lạc. Trong lúc nàng mở miệng gọi đến lần thứ hai thì trái chỉ theo hơi nàng thở hút vào trong bụng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thấy phép tắc thần thông bị một cô gái thu mất, lòng tự ái của thiên thần bị kẻ phàm trần trêu ngươi quá đỗi, vị thần nổi trận lôi đình nghĩ cách trả thù. Lập tức thần nhắn gọi ngay Thiên Lôi ở dưới quyền mình trước kia đến. Thần Sét rủ các bạn, thần Gió, thần Mưa, thần Sấm, thần Chớp, cùng đến ra mắt. Vị thần mê gái liền nhờ Thiên Lôi giúp mình đánh cho tan tành quần áo cô gái đang nô đùa với bầy thú giữa rừng kia, song đừng làm hại đến người nàng. Thần Sét vâng lời, rồi chỉ trong nháy mắt, giữa lúc cô gái đang vuốt ve mấy con nai con bên giòng suối, thì mây đen kéo đến kín trời, gió nổi lên dữ dội, sấm dậy ầm ầm, chớp nhoáng chằng chịt, mưa tuôn xối xả. Thị Tơ bỏ chạy về động, bỗng một tiếng sét nổ vang trời, rung chuyển cả núi rừng nhắm bổ xuống người nàng. Thị Tơ không hề hấn gì, song lớp quần áo che đậy người nàng đã tan biến đâu mất. Vị thần đứng trên một mỏm đá cao chứng kiến cảnh tượng ấy, phá lên cười đắc thắng, rồi sôi nổi chạy về phía người đẹp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhưng thần lại phải thất vọng một lần nữa, vì chiếc vòng ngọc đeo ở tay đã giúp cho thị Tơ thành ra vô hình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đêm xuống, thị Tơ khó nhọc lần mò về đến trong động. Nàng thẹn thùng với tất cả chung quanh, tưởng chừng như vật gì cũng có mắt đang tò mò nhìn mình. Trần truồng, nàng không dám gọi đến ông lão hay lũ thú rừng quen biết đến cứu giúp. Nàng lui vào cuối động, rét run lẩy bẩy. Tấm lưới thần đã nuốt vào bụng làm cho nàng khó chịu, nôn ra, thành một đống chỉ mềm dịu, bền chắc. Lạnh quá, nàng lấy quấn vào người làm một thứ mền đắp ấm áp. Thế rồi nàng dần dần tắt thở trong cái ổ chỉ êm dịu ấy. Trước khi linh hồn rời khỏi thể xác, nàng thành khẩn nghĩ đến những kẻ nghèo nàn, khốn khổ, thiếu quần áo che thân, phải chết lạnh lẽo như nàng, tự nguyện sẽ giúp cho họ may mặc, đem những sợi chỉ này dệt thành quần áo. Vì thế mà nàng chết đi hóa thành con tằm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Để thực hiện lời nguyện ước, hồn nàng mang theo đống chỉ tơ đến giăng ở ngọn cây dâu trong vườn Thượng uyển, nơi hoàng hậu cùng vua thường ngự tới mỗi chiều. Khi hoàng hậu ngang qua, hồn nàng mới nhả ra các sợi tơ vàng óng ánh tung bay cho gió mơn man. Hoàng hậu ngạc nhiên hứng lấy, thấy chỉ tơ đẹp, ánh vàng, mềm dịu, bứt thử mới hay là sợi tơ trông mong manh mà dẻo chắc lạ thường. Dâng lên vua xem, hoàng hậu ước mong được mặc một chiếc áo dệt bằng những sợi tơ vàng đẹp ấy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nỗi mong ước của hoàng hậu được nhà vua sai thực hiện. Tất cả những sợi tơ vàng trong vườn ngự uyển đều được thu góp lại, bao nhiêu thợ dệt tài giỏi trong nước được triệu vào cung, rồi chẳng mấy chốc, một tấm lụa vàng cực kỳ mềm dịu, bền chắc, rạng rỡ dâng lên trước mắt vua. Hoàng hậu vui mừng sai cắt ngay cho mình một chiếc áo dài, để hôm sau ra triều ngự cạnh vua. Cả triều sửng sốt trước vẻ đẹp của chiếc áo hàng mới làm tăng thêm bội phần nhan sắc của người mặc. Vua mới cho triều thần hay là chính hoàng hậu đã khám phá ra thứ chỉ tơ quý lạ đó, và cho phép các quan cùng nhà giàu có trong nước được bắt chước hoàng hậu may mặc thứ hàng mới kia.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ đó nghề trồng dâu, nuôi tằm bắt đầu nẩy nở, đáp lại nguyện vọng thiết tha của cô gái quê mùa thị Tơ.</description>
      <pubDate>07.09.2008 22:10</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=28</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Gái Ngoan Dạy Chồng</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=29</link>
      <description>Ngày xưa có một người đàn ông giàu, vợ chết sớm, chỉ có độc một người con trai . -Đứa con vốn người xấu nết, đần độn, lại là tay chơi bời lêu lổng không chịu học hành hay làm ăn gì cả.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thấy con không lo nối nghiệp nhà, người nhà giàu rất buồn phiền, biết rằng của cải của mình sẽ có một ngày đội nón ra đi mà thôị Bởi vậy, ông bèn tính chuyện kiếm cho con một người vợ khôn ngoan đảm đang, để may ra nó sẽ ngăn chặn tay chồng, bảo vệ một phần nào cơ nghiệp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nghĩ vậy, ông cất công đi khắp nơi tìm kiếm, nhưng đi đã nhiều nơi mà vẫn chưa thấy một người nào vừa ý.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một hôm, đến một vùng kia, nhân mỏi chân, ông nghỉ lại một gốc đa bên đường. Ông bỗng thấy ở một cây táo gần đấy có một bọn trẻ đang tranh nhau trẩy ăn . Một chốc sau, một cô gái tuổi chừng đôi tám, cũng đến trẩy táọ Ông mới lân la lại gần hỏi xin ăn .&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lúc này, táo chín đã bị bọn người trước trẩy hết, chỉ còn những quả xanh, nhưng cô gái cũng cố chọn lấy những quả ương ương đưa cho khách.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thấy cô gái tốt bụng, ông ta nghĩ : &quot;Sởi lởi, trời gởi của cho, quăn co, trời gò của lạị Chỉ có người nào tốt bụng với mọi người mới xứng đáng được hưởng giàu có sung sướng&quot;.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bởi vậy, ông mới tìm đến nhà cô gái, giả làm một người lỡ độ đường, xin nghỉ trọ một tốị Và rồi ông được gia đình cô gái ân cần tiếp đãị&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Để thử xem cô gái có khôn ngoan không, ông lân la làm quen với nàng. Khi biết cô sắp đi chợ, ông đưa ra một quan tiền nhờ mua hộ cho mình &quot;một nắm gió, một bó lửa&quot;. Cô gái chẳng nói chẳng rằng, mua về cho ông một cái quạt và một con dao đánh lửạ Thấy thế, ông thầm khen ngợi, nhưng vẫn định thử thêm cho biết.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Qua ngày hôm sau, ông dậy sớm, giở tay nải đưa cho cô mấy bát gạo nếp, nhờ nàng thổi giúp cho mình một nồi vừa cơm vừa bánh để ăn và đem đi ăn đường. Cô gái không từ chối, vội lấy gạo ra vo . Trước khi cho vào nồi, nàng bớt lại một ít giã làm bột vắt bánh rồi hấp luôn vào cơm . Khi nàng bưng ra, ông già lấy làm vừa ý, cho là con người đó đủ cả đức hạnh, khôn ngoan, đảm đang ít có. Bèn quyết định trở về sửa soạn lễ hỏi cho con trai làm vợ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đứa con trai của ông từ ngày có vợ lại càng lêu lổng ; hắn thường bỏ nhà đi đánh đàn, đánh đúm với bọn vô lại, làm cho ông hết sức buồn. Và điều làm ông lo lắng nhất là hắn thỉnh thoảng lại trộm tiền của ông, khi dăm bảy quan, khi một vài vác, tung vào cuộc đỏ đen . Mặc dù ông đánh đập, mặc dù vợ hắn khuyên lơn, nhưng hắn chứng nào vẫn tật ấỵ Dần dần ông buồn phiền thành bệnh. Một hôm, biết mình sắp chết, ông gọi con dâu đến bên giường dặn nhỏ :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Này cha đã gần đất xa trờị Chồng con là một thằng &quot;Phá gia chi tử&quot;, cơ nghiệp này chỉ còn một sớm một chiều mà thôi . Cha rất thương con xấu số. Từ lâu cha làm ăn dành dụm, có để được một hũ vàng chôn ở sau vườn. Vậy cha cho riêng con hũ vàng đó, đừng cho chồng con biết. Sau này chồng con có thật sự ăn năn hẵng giúp cho nó làm lại cuộc đờị&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đứa con trai ông sau khi người cha qua đời, lại càng chơi bời mặc sức. Vợ hết khuyên lơn đến cầu khẩn, hắn chẳng những đã không nghe lại còn phũ phàng với vợ. Mỗi lần thua bạc, hai người lại càng xô xát. Nhiều lần vì vợ cản trở, hắn đánh đập vợ không tiếc tay và làm nhục nàng trước mặt mọi ngườị Một hôm để khỏi vướng, hắn viết giấy cho vợ đi lấy chồng khác rồi đuổi nàng ra khỏi cửạ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ đó, hắn phỉ chí tung hoành không một ai dám cản. Quả như lời đoán của bố hắn, mấy chục mẫu ruộng đều lần lượt &quot;nướng&quot; vào sòng bạc. Hết ruộng vườn tới nhà ở, chẳng bao lâu tất cả cơ nghiệp mấy đời lưu truyền lại đều sạch sành sanh . Cuối cùng không một đồng dính túi, không một nghề cầm tay, hắn đành bỏ làng mạc quê quán, đi lang thang khắp đầu đường xó chợ, ngửa tay xin ăn qua ngàỵ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Còn về người đàn bà sau khi bị chồng đuổi, mới đổi tên, tìm đến trấn thành mở một ngôi hàng nước. Sau ít lâu, kiếm được một số nhỏ, nàng bắt đầu buôn hàng tấm. Số vốn của nàng ngày một lớn dần. Một hôm, gặp hai em bé gái mồ côi đi ăn xin, nàng thương tình đưa về nuôi làm con, coi như ruột thịt. Cuộc đời dần dần nở hoa trước mắt nàng. Trong một dịp đi tìm kiếm củi, hai con nàng nhặt được một khúc gỗ mục, về chẻ ra thấy có mấy thoi vàng. Có vốn lớn lại có tài kinh doanh, nên chẳng bao lâu, nàng trở nên giàu có, nổi tiếng trong trấn. Tiền bạc tuôn về như nước. Tuy sống sung sướng nhưng nàng vẫn ở một thân một mình. Thấy nàng giàu có, nhiều kẻ ngấp nghé muốn &quot;gá nghĩa Châu Trần&quot;, nhưng người đàn bà ấy nhất thiết từ chối mọi lời đường mật. Mặc dù người chồng bạc bẽo và mặc dầu mười lăm năm xa cách, nàng vẫn không quên được tình xưa nghĩa cũ. Đã nhiều lần nàng thuê người lần đi các chợ búa phố phường dò hỏi nhưng tin tức của chồng càng hỏi, càng bặt tăm .&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm ấy, sau mấy tháng hạn, lúa khoai chết mòn trên những cánh đồng nứt nẻ. Giá gạo cứ lên vùn vụt. Ngoài đường, người đi xin ăn kéo từng đoàn. Người đàn bà lúc này đã là bà chủ hiệụ Bà xin phép quan trên cho mình đem tiền gạo ra phát chẩn cho kẻ khó. Làm như thế, nàng còn mong một khi thấy yết thị dán khắp thôn xóm thì chồng mình tất sẽ lần mò về, nếu hắn còn sống. Y như thế thật, ngày bắt đầu phát, nàng đã thấy bóng dáng của chồng ngồi ở hàng cuối đội quân lĩnh chẩn. Đúng là hắn. Từ ngày bắt đầu cầm bị gậy đến nay, hắn vẫn chưa có cách gì để sống khá hơn và đỡ hèn hạ hơn trước. Bây giờ nghe nói có phát chẩn, hắn vội mò đến đây và ngồi đầu hàng về phía tả. Thế nhưng khi phát, những người giúp việc cho bà chủ hiệu lại được lệnh phát từ phía hữu lạị Khi sắp sửa đến lượt hắn thì bọn họ tự nhiên nói lớn :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;-- Hôm nay đã hết gạo, mời bà con về đợi đến ngày mai !&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hắn buồn bực trở ra . Qua ngày sau, hắn cố tìm đến thật sớm, ngồi vào đầu hàng bên hữụ Nhưng hắn không ngờ, những người phát chẩn hôm nay lại bắt đầu phát từ phía bên kia . Lúc sắp phát đến hắn thì chúng lại giơ thúng không lên :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;-- Hôm nay thế là lại hết gạọ Bà con hãy đợi đến mai .&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hắn thở than cho số đen đủi, lần trở ra về. Qua hôm sau, lại mò đến thật sớm. Lần này hắn len vào ngồi đúng chính giữa đội quân lĩnh chẩn. Trong bụng hắn nghĩ lần nầy thì không để mất phần được. Nhưng đến giờ phát, hắn không ngờ người nhà của bà chủ hiệu hôm nay lại phát hai đầu phát lại và cuối cùng người không được gì cả, vẫn lại là hắn. Ba lần hỏng cả ba, hắn rất ngao ngán, bèn đánh liều tìm đến dinh cơ bà chủ để xin ăn . Gặp hai đứa con gái nuôi của vợ, hắn ngả nón kêu van hết lờị Ở trong nhà ; người đàn bà nhìn ra biết là chồng, đã do mưu của mình mà đến đây, bèn sai người hầu ra hỏi, xem hắn có biết làm việc gì không để thuê mượn. Nghe hỏi thế, hắn vội trả lời :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;-- Xin ông bẩm với bà lớn rủ lòng thương, cho tôi được ở hầu bà, rửa bát, quét nhà, mọi việc tôi đều xin hết sức. Chỉ cho tôi ăn ba miếng là đủ rồi !&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người nhà trở ra cho hắn biết bà chủ nhận lờị Từ đó, hắn chăm chỉ làm lụng, cố làm vừa lòng chủ. Nhưng chung quy hắn vẫn không biết chủ chính là vợ cũ của mình. Về phần người vợ cũng không hề để lộ một tí cho hắn biết, chỉ dặn hai con và người nhà đối đãi tử tế mà thôi . Sau một thời gian, thấy hắn chịu khó làm ăn, người đàn bà mừng lắm. Một hôm nàng cho gọi hắn lên nhà hỏi xem có biết chữ nghĩa gì không ! Hắn đáp :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Tôi lúc nhỏ được đi học có biết ít nhiềụ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Vậy từ mai trở đi, anh không hầu hạ nữa, cho anh ở gian nhà khách dạy đám trẻ học tôi sẽ trả mỗi năm ba mươi quan .&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nghe nói, hắn tưởng không có gì sung sướng hơn thế nữa, cảm thấy lòng nhân đức của bà chủ đối với mình bằng trời bằng biển, vội nhận lời ngay . Từ đó, hắn đóng vai thầy đồ cố sức làm cho chủ tin cậỵ Nhưng người vợ vẫn thử mãi không thôi .&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một lần, gặp ngày tết, bà chủ sai lấy tiền ra cho kẻ hầu người hạ. Nàng nói :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Ta cho mỗi người năm quan, hãy mang đi đánh bạc cho vui, nếu hết sẽ cho thêm . Thầy đồ ta cũng được năm quan tiền. Nhưng trong khi mọi người đem tiền nướng vào xóc đĩa, bài mười, thì trái lại, hắn mang nguyên vẹn số tiền đó về gửi cho chủ. Bà chủ hỏi :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Tại sao anh không thích đánh bạc ? Hắn trả lời :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Bẩm bà, tôi ngày xưa, vì cờ bạc mà đến nông nỗi nàỵ Cho nên bây giờ buộc chỉ cổ tay thề rằng không đụng đến nó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thế rồi luôn miệng, hắn kể hết cho chủ nghe, từ cuộc đời cũ có ruộng nhiều, có vợ ngoan như thế nào, rồi bán ruộng đuổi vợ ra sao, cho đến lang thang đói rách, và ngày nay đã ăn năn hối lỗi v.v... Bà chủ hỏi :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Anh còn thương vợ nữa không ? Hắn rầu rĩ :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Tôi đã nhiều lần dò tìm mà không thấỵ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Nghe anh nói tôi rất thương tình. Vậy tôi cho anh năm quan để anh đi tìm vợ. Nếu hết tiền mà vẫn chưa thấy, anh cứ về đây, tôi sẽ cho thêm mà tìm cho rạ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hắn mừng rỡ vâng vâng, dạ dạ, mang tiền đi tìm. Nhưng sau ba tháng trở về với bộ mặt thiểu não, hắn cho chủ biết không hề thấy tung tích đâu cả, chắc là vợ hắn đã chết.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ đấy, vợ thấy chồng chí tình, lại có lòng tu tỉnh, nên rất mừng. Nhưng nàng vẫn chưa ra mặt vội, chỉ an ủi hắn hãy ở lại đây, may ra sẽ có ngày hội ngộ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một hôm, nhân ngày giỗ cha chồng, bà chủ nhờ thầy đồ chép bài văn tế. Hắn ta ngạc nhiên và bội phần mừng rỡ khi thấy bài vị của tổ tiên nhà chủ chính là bài vị tổ tiên mình. Lập tức, hai vợ chồng ôm nhau khóc lóc. Rồi sau khi cúng xong, họ mời làng xóm và người nhà ngồi lại kể rõ sự tình. Ai nấy đều cho là một cuộc tái ngộ hiếm có.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về sau, hai vợ chồng dựng vợ gả chồng cho hai con nuôi, giao cửa hiệu lại cho chúng cai quản. Sau đấy, họ dắt nhau trở về quê hương xưa, chuộc lại vườn tược nhà cửa cũ. Và sau khi đã sống yên ổn ở quê nhà, vợ mới sai đào hũ vàng bố chồng cho mình ngày xưa lên . Nàng nói :&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Có vàng chưa chắc đã có hạnh phúc. Cho nên trong những cơn túng thiếu nhất, tôi vẫn không cần đến nó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nói đoạn, đem số vàng ấy cúng cho đền chùa để bố thí cho người nghèọ Từ đấy, hai vợ chồng sống với nhau đến đầu bạc. Câu tục ngữ : &quot;Làm trai rửa bát quét nhà. Vợ gọi thì &#039;Dạ bẩm bà tôi đây !&#039;&quot; là do chuyện này mà ra.</description>
      <pubDate>07.09.2008 22:11</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=29</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Hại Người Trở Lại Hại Mình</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=30</link>
      <description>Thuở xưa, trong hàng Bà La Môn có một người dâm phụ đương lúc tuổi còn xuân xanh, săc duyên đằm thắm, mà trong lòng đã mang một khối tình rất lai láng. Mặc đầu nàng đã có chồng, nhưng thường có tính lẳng lơ, vì thế hằng ngày mơ tưởng việc ngoại tình. Tuy cái ý tưởng củ nàng muốn như vậy, nhưng ngặt vì trong nhà còn chút mẹ chồng, nên nàng còn kiêng nể và phải đè nén lòng dục vọng của mình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một hôm nàng bèn nghĩ ra một mưu kế rất hiểm độc, bề ngoài thì nàng thường giả mượn điều hiếu thảo mà đố với mẹ chồng, nên hằng ngày thường lo sắm những thức ngon vật lạ cho bà ăn uống, nhưng trong lòng chờ cơ hội để hại bà.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người chồng của nàng thấy vậy thì có ý mừng thầm mà nghĩ rằng: &quot;Ngày nay mẹ ta đã tuổi cao sức yếu, mà lại may mắn gặp được một người vợ hiền, biết lo hết bổ phân làm dâu mà chăm sóc mẹ ta được ăn no ngủ khỏe trong khi đầu bạc da nhăn như vậy, thật là một điều hết sức vui mứng.&quot;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người dâm phụ biết chồng đã lầm kế của mình rồi, bèn thừa cơ nói với chồng rằng: &quot;Thưa chàng! Tuy thiếp đã hết lòng nuôi dưỡng mẹ như thế, nhưng sự ấy chẳng qua là điều ở thế gian mà thôi, nên sự hiếu dưỡng cũng chưa lấy gì đáng gọi là mỹ mãn cho lắm!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vậy chàng cũng nên tìm một phương pháp chi khác, đặng hóa sanh độ tử cho mẹ được siêu thoát linh hồn và được vãng sanh về cõi Trời mà hưởng những hạnh phúc thần tiên, thì chúng ta mới trọn đạo làm con; chớ những vật chất ở đời nầy cũng chỉ là nó giả dối trong lúc còn sống mà thôi!&quot;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người chồng nghe vơ nói những lời tha thiết như thế, liền đáp rằng: &quot;Nếu chúng ta muốn cho mẹ được mau siêu thăng lên cỡi Trời, thì chỉ có một pháp của đạo Bà La Môn, là phải dùng hầm chất củi mà đốt mẹ. Nhưng ta không nỡ làm như vậy&quot;.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người dâm phụ nghe chồng đáp thì biết đã trúng kế của mình nên nói thêm rằng: &quot;Phải lắm! Trong đạo hạnh của mình đã có pháp giải thóat siêu thăng như vậy thì chúng ta cũng nên thi hành liền, đặng cho mẹ được lên chốn thiên đường hưởng lộc Trời, mà chúng ta cũng đền đáp được ân sanh thành nữa&quot;.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nghe qua mấy lời cửa vợ, người chồng liền tin, chớ chẳng ngờ vợ xúi đốc làm như thế là có ý quyết hại mẹ mình, nên chàng ra ngoài đồng ruộng đào một cái hầm rất lớn mà lại thật sâu, và chở củi đem chất dưới hầm, rồi đốt lửa hừng lên đỏ lòm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đoạn chàng lạp lập một tiệc ở gần cái hầm, rồi trở về nhà dẫn mẹ ra đó đứng làm chủ tiệc và mới cả thảy những bà con tân khách cùng các chúng Bà La Môn đến dự và uống rượu nghe đờn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau khi yến tiệc vừa xong, các tân khách đều lui về nhà, hai vợ chồng người dâm phụ bèn dẫn mẹ ra mé hầm xem, rồi thình lình xô mẹ xuống hầm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người vợ tưởng chắc rằng xác thịt của mẹ chồng đã tiêu diêu tự tại nơi cõi Trời, nên giắt nhau trở về nhà.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngờ đâu trong hầm ấy lại có một khoản trống không có lửa, khiến bà sa vào đó mà chẳng có điều gì hại đến tánh mạng, nên bà có thể tìm đường chun ra được.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi bà ra khỏi chốn hiểm nguy rồi, thì trời đã về khuya, bốn bề tĩnh mịch, bà lần mò theo đường cũ trở về nhạ Nhưng vì đường xa và trời lại tối đen nhu mực nên bà mới gắng leo lên một nhành cây to và rậm để ẩn thân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong khi bà ngồi trên cây, bỗng đâu dó một lũ ăn trộm vừa đến nghỉ tại dưới gốc. Bà liền tằng hắng một tiếng lớn, bọn trộm hoảng kinh lật đật bỏ chạy tứ tán, để lại những đồ của chúng nó đã lấy của ngườị&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đến khi trời vừa tảng sáng, bà liền leo xuống, thì thấy những đồ châu báu và bạc tiền đầy dưới gốc nên bà lựa những món qúy giá như: vàng, bạc, ngọc, ngà, xuyến, bông tai, v.v... rồi lần lượt đem về nhà.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Con dâm phụ thấy mẹ chồng trở về, liền kinh hãi và tưởng rằng bà đã hiện hồn về nhà, nên nhắm mắt và lánh mặt cúi đầu, chẳng dám chào hỏị Còn chồng của nàng thì lại tưởng mẹ mình đã được siêu sanh nơi cõi Trời, nay về thăm mình, nên lật đật chấp tay lạy mẹ mà nói rằng: &quot;Con nhớ vợ của con khuyên bảo dùng phương pháp &quot;Hóa sanh độ tử, thoát kiếp siêu hồn&quot;. Nên nay em. được lên ở cõi Trời mà về thăm con, thì con rất vui mừng&quot;.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bà mẹ nghe con nói như vậy mới biết dâu mình đã muốn hại mình, nên bà &quot;nhân kế tựu kế&quot;, nghĩa là bà dùng cái kế của người dâu đã hại bà dó mà trở lại hại nó. Bà bèn lại rằng: &quot;Mẹ nhớ hai vợ chồng con làm phép siêu thăng cho mẹ, nên nay mẹ được giải thoát mà sanh về cõi Trời, hưởng được nhiều điều phước báọ Hai vợ chồng con ăn ở như vậy mới được trọn phần hiếu thảo&quot;.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bà lại day mặt qua người dâu, và đưa mấy món báu cầm nơi tay mà nói rằng: &quot;Những món: ngọc, bông tai, vòng, vàng, xuyến nầy là vật của ông bà con cậy mẹ đem về cho con. Nhưng vì mẹ chân yếu gối đùn, thân gầy sức mỏng, nên xách đem về chẳng đặng nhiềụ Vả lại mấy người ấy nhắn với mẹ bảo con cũng làm phép siêu thăng như con đã làm mẹ vậy, đặng con lên Thiên đường mà lãng lấy những đồ châu báu ấy còn rất nhiều&quot;.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người dâm phụ nghe mẹ chồng mình nói như vậy, tưởng là sự thật, nên vui mừng mà nói với chồng rằng: &quot;Ngày nay mẹ có duyên sa xuống hầm lửa mà dược lên cõi Trời hưởng những vật lạ của báu; nhưng tiếc vì thân mẹ già yếu, nên chẳng đem hết của về được. Vậy nếu chàng bằng lòng cho phép thiếp làm phép siêu thăng như mẹ vậy, thì chắc thiếp đem tất cả những đồ châu báu ấy về hết, khi ấy chúng ta sẽ trở thành đại phú gia, mặc sức cùng nhau hưởng sự sung sướng!&quot;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người chồng nghe vợ tỏ ý như thế, thì cũng vui vẻ bằng lòng, liền đào một cái hầm làm y theo cách đã thiêu mẹ mình ngày trước.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhưng than ôi! Khi hầm lửa vừa sắp đặt xong, con dâm phụ kia liền gieo thân mình xuống, của cải châu báu đâu chẳng thấy trái lại phải bị ngọn lửa thiêu đốt nóng không thể tưởng tượng và kết quả báo rùng rợn đáng làm gương cho những nàng dâu bất hiếu với mẹ chồng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trich sách: Gương Nhân Quả&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Hại người sẽ bị người hại&lt;br /&gt;- Oán người sẽ bị người oán,&lt;br /&gt;- Đánh người sẽ bị người đánh.</description>
      <pubDate>07.09.2008 22:12</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=30</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Hoa Thủy Tiên</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=31</link>
      <description>Ngày xưa, có một ông phú hộ sinh được 4 người con traị Khi biết mình sắp chết, ông gọi 4 người con đến, dặn dò các con phải chia gia tài của cha làm 4 phần đều nhaụ Bốn người con hứa tuân lời cha trối lại, tuy nhiên, vừa chôn cất cha xong thì 3 người con đầu dành phần gia tài nhiều hơn người em út. Họ chỉ chia cho đứa em út một mảnh đất khô cằn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người em út rất buồn, vừa thương nhớ cha, vừa buồn các anh xử tệ với em. Đang ngồi khóc một mình trước mảnh đất khô cằn, thì người em bỗng thấy một bà Tiên từ mặt ao gần đó hiện lên bảo:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Này con, thôi đừng khóc nữa. Khoảng đất này của con có chứa một kho tàng, mà các anh của con không biết. Kho tàng này chứa nhiều mầm của một loại hoa quý vô giá. Mỗi năm, cứ đến mùa Xuân, thì hoa đâm chồi nẩy lộc, nở từng hàng chi chít trên đất đai của con. Con sẽ hái hoa, đem bán, rất được giá. Nhờ đó, chẳng bao lâu thì con sẽ giầu có hơn các anh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quả thật, đến mùa Xuân ấy, đúng như lời bà Tiên nói, mảnh đất khô cằn của người em bỗng nhiên mọc lên từng hàng hoa trắng, hương thơm ngào ngạt. Để nhớ đến ơn lành của bà Tiên, người em đặt tên cho loại hoa này là Hoa Thuỷ Tiên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những người thích hoa, chơi hoa, và những người nhà giầu đã thi nhau đến mua hoa Thuỷ Tiên hiếm quý, với giá rất đắc. Chẳng bao lâu, người em trở nên giầu có, nhiều tiền bạc. Rồi cứ mỗi năm Tết đến, người em út lại giầu thêm, nhờ mảnh đất nở đầy hoa thơm tươi thắm. Người em trở nên giầu hơn 3 người anh tham lam kia.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người ta tin rằng Hoa Thuỷ Tiên mang lại tài lộc và thịnh vượng. Do vậy, mỗi dịp Tết đến, chơi hoa thuỷ tiên trở thành một tục lệ đón Xuân. Những ngày cuối năm, Thuỷ Tiên được chăm sóc để hoa nở đúng Giao Thừa, hy vọng mang đến tài lộc sung túc và may mắn trong năm mới.</description>
      <pubDate>07.09.2008 22:13</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=31</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Hồ Ba Bể</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=32</link>
      <description>Ngày xưa, ở vùng Bắc Cạn, mỗi năm dân làng Năm Mẫu đều có tổ chức lễ cúng Phật lớn, gọi là lễ Vô Giá. Dân chúng khắp miền mạn ngược tề tựu lại rất đông. Một hôm, có một bà lão bệnh cùi đến làng dự lễ. Quần áo bà rách rưới, tả tơi. Người bà bốc mùi hôi hám, rất khó chịu, khiến mọi người phải lánh xa. Bà lão hủi này đến nhà nào xin ăn, đều bị xua đuổi, mắng nhiếc. Người ta sợ lây bệnh cùi hủi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy nhiên, có người biết động lòng thương hại. Đó là một người đàn bà goá, ở với con trai. Bà không kinh tởm, gọi bà lão hủi vào nhà cho ăn uống no đủ. Sau đó, bằng lòng cho bà lão ăn mày ngủ nhờ một đêm, ở góc vựa lúa, trong lều. Đến nửa đêm, hai mẹ con bỗng giật mình thức giấc, nghe có tiếng động ầm ầm dữ dội từ phiá vựa thóc. Mở cửa vựa thóc ra, không thấy bà lão cùi đâu, mà là một con rắn lớn uốn mình ầm ầm như tiếng sấm. Hai mẹ con kinh hãi trở ra, thao thức, lo sợ, không ngủ được nữa. Đến sáng, thấy bà lão đi ra từ vựa thóc, nói:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Tôi thật sự không phải là người, chỉ giả dạng ăn mày để thử lòng từ thiện của tín hữu nam nữ đến làng Năm Mẫu lễ Phật. Tất cả mọi người đều xua đuổi tôi, ngoại trừ 2 mẹ con nhà này. Họ đều là khẩu Phật tâm xà, sẽ không tránh khỏi hình phạt của bề trên đã giao phó cho tôi thi hành. Hai mẹ con bà biết thương kẻ khốn cùng, cho nên tôi xin báo trước là sắp có tai họa lớn xảy ra. Hễ khi nào thấy có nước nguồn bắt đầu đổ về đây, thì hai mẹ con hãy mau mau chạy lên đỉnh núi mà tránh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nói xong, bà lão biến mất. Qua ngày hôm sau, trong lúc mọi người đang chen nhau đến dự lễ Phật giữa làng, bỗng nhiên, nước ở đâu cuồn cuộn đổ tới tứ phía, tràn vào thung lũng. Người ta trèo lên mái nhà, trèo lên cây. Nhưng nước cứ dâng tràn đầy lên mãi, ngập cả những nóc nhà và cây cao. Tất cả mọi người đều bị chết ngộp, trừ 2 mẹ con bà goá kia đã chạy vội thoát lên được trên đỉnh núi cao.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trên núi, hai mẹ con dựng lên một gian nhà nhỏ sinh sống. Nơi này, về sau trở thành một ngôi làng đông đúc, và ngày nay vẫn có tên là làng Năm Mẫu. Cả thung lũng bị nước tràn ngập thì hoá thành 3 cái hồ rộng lớn, mênh mông như bể, nên người ta gọi là Hồ Ba Bể. Nước ở ba hồ lưu thông nhau, nhưng ghe thuyền không thể đi được từ hồ này sang hồ kia, vì có các đập đá lớn ngăn trở. Hồ Ba Bể rộng bát ngát, nước trong xanh như ngọc bích, nổi bật giữa núi rừng hùng vĩ của miền thượng du Bắc Việt.</description>
      <pubDate>07.09.2008 22:14</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=32</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Lửa Bếp</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=33</link>
      <description>                         &lt;p align=&quot;center&quot;&gt;&lt;/p&gt;&lt;p align=&quot;left&quot;&gt;Ngày nay ở các đô thị, việc dùng bếp                          điện khá phổ biến. Ai cũng nhận bếp điện tiện, nhanh,                          sạch giản dị và đảm bảo. Hơn nữa, nấu cơm bằng nồi điện                          &quot;National&quot; chẳng cần học làm bếp, thổi cơm cũng chắc có                          cơm chín không sống không cháy, không khê. Sự biến đổi                          kỹ thuật nấu ăn kèm theo một biến đổi ngữ nghĩa của từ                          bếp: Bị thu hẹp vào một đồ dùng, mất đi cái nghĩa chỉ                          thị một nơi. Nấu bằng bếp điện không còn cần một nơi                          riêng gọi là nhà bếp, vì có thể để bếp điện ngay phòng                          khách, phòng ăn, phòng làm việc. Cũng không còn lo lắng                          làm sao có lửa và nhất là làm sao giữ lửa, vì mọi sự đều                          dễ dàng quá, chỉ việc bấm, bật một cái (nút là có điện                          vào bất cứ lúc nào muốn có. Nhưng sự giản dị, dễ dàng,                          tiện lợi làm mất đi những cảm giác, tình tự liên hệ với                          lửa bếp những thời mà nhà nào cũng phái có một cái bếp                          và lửa bếp còn mang tầm mức quan (trọng của một vấn đề                          sống còn. Nếu dùng bếp điện không được thấy lửa củi, rơm                          cháy đỏ hoặc than hồng là thế nào, không cảm thấy (hơi                          lửa  nóng tỏa ra, xông vào mặt, (không nghe được                          tiếng than nổ lách tách hay tiếng củi cháy xèo xèo.                          Nhưng nhất là không còn có được những tình cảm, rung                          động ngồi chung quanh bếp lửa...&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;Nấu bếp vào Mùa Hè, đặc biệt buổi trưa                          nóng nực hay là những ngày có đám thật là cực khổ vất vả,                          nhưng nếu phải &quot;rúc vào bếp&quot; làm những việc cực nhọc,                          nóng bức không có gì là thú vị, để phục vụ (tạo bữa ăn                          ngon, nóng cho những người thân yêu: Chồng con, phân                          thuộc...) thì những cực nhọc trên lại tạo ra những vui                          sướng thật xứng đáng với những cực nhọc đã phải chịu...                          Tuy nhiên có những lúc khác ngồi quanh bếp lửa thật là                          dễ chịu ấm cúng. Trời tối, rét, gia đình hay hàng xóm                          tụm năm tụm ba ngồi quanh bếp vừa nướng khoai, rang ngô                          (bắp) vừa thân mật trò chuyện, xôm nhộn như ngô rang nổ...                          không phải là những giây phút thú vị hạnh phúc sao?&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;Nhờ có lửa. Lửa sưởi ấm, lửa soi sáng,                          lửa làm chín thơm ngon...Đó là chức năng chính của lửa:&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;Làm tan giá lạnh buốt xua đuổi đêm tối                          hãi hùng, ma quái ngăn chặn hoặc phủ nhận ươn thối (cá                          thịt), héo úa (rau cỏ), xóa bỏ mùi hôi tanh, nhằm đem                          lại sự sống và duy trì sự sống của con người. Cho đến                          bây giờ, người ta vẫn chưa biết gì nhiều về nguồn gốc                          lửa bếp: Làm sao có lửa và giữ lửa (1). Nhưng một điều                          có thể khẳng định được là việc tìm ra lửa bếp đó là một                          chinh phục lớn lao của con người, một tiêu chuẩn cơ bản                          xác định thế nào là văn minh và tình nhân loại, vì chỉ                          con người mới biết dùng lửa. Vào thời kỳ sơ khai rất khó                          làm ra lửa (bằng cách đập, chà, cọ xát mạnh gỗ đá ) càng                          khó hơn giữ lửa được lâu, nên lửa là một cái gì thật quý,                          hiếm, tạo ra một mói bận tâm lớn lao giữ lửa. Nhiều dân                          tộc xưa như dân La Mã thời thượng cổ, các sắc dân miền                          Iran đã đặt ra những hình luật phạt nặng những kẻ làm                          mất lửa: Ở thôn quê Việt Nam thấy có hai cách giữ lửa:                          Dùng bùi nhùi dài bằng rơm để cháy âm ỉ, hoặc nhấm trấu,                          đổ mớ trấu bên cạnh bếp, trên đè bằng một hòn đất để                          cháy âm ỉ, suốt ngày hoặc suốt đêm, lúc cần chỉ việc                          thổi lên là lửa cháy. Chính vì có đống nhấm trấu, mà bếp                          luôn luôn ấm, nóng, biểu  hiện nhà đó, nơi đó có                          người ở, sinh sống. Trái lại khi không thấy khói bếp bốc                          lên và tro bếp nguội tanh, lạnh ngắt, phải hiểu nhà đó                          vắng người, bỏ hoang và không còn sự sống ở đó nữa. &lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;Nếu về mặt khảo cổ khoa học, không biết                          được gì nhiều nguồn gốc của lửa bếp, trái lại có thể tìm                          thấy  khá nhiều những thần thoại, cổ tích, phong                          tục xưa cũ về nguồn gốc và công dụng của lửa  bếp                          mà nói chung dân tộc nào cũng có.&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;Theo Farager, trong nhiều trường hợp câu                          chuyện kể (thần thoại, cổ tích) lửa thường được một con                          chim hay con vật đánh cắp mang về cho con người. Hoặc                          chỉ đàn bà ở nhà mới biết làm ra lửa trong khi đàn ông                          đi săn bắn ở xa lại không biết, khi trở về thấy tro hỏi                          thăm, nhưng người đàn bà vẫn giấu không nói cho biết.                          Kinh nghiệm cọ xát làm ra lửa cũng gắn liền với kinh                          nghiệm tình ái do đó lửa là biểu hiện của khái niệm sinh                          sản. Ở La Mã thời thượng cổ giường cưới được kê sát cạnh                          bếp. Sản phụ mới đẻ, ở cữ nằm trên giường dưới có lửa (hơ                          nóng bằng than hỏa lò như ở thôn quê Việt Nam). Lửa bếp                          không những sinh ra sự sống, còn gìn giữ sự sống. Vai                          trò này được thần linh hóa. Ở ấn Độ, đó là thần Agui                          luôn luôn ở cạnh gia đình không bao giờ vắng mặt vì là &quot;chủ                          nhà&quot; để canh giữ gia đình. Ở&lt;br /&gt;                         Việt Nam đó là ông Táo hay Thần Bếp. Sự tích ông Táo                          liên hệ với ba hòn đất nung để kê nồi niêu mà nấu bếp                          gọi là ông đầu rau... Có ba cách nấu nướng: Ở chỗ nào                          không có đồ dùng (nồi chảo bằng đất, nung, đồng) phải                          dùng những ống&lt;br /&gt;                         tre, vỏ cây để sát vào lửa, hoặc có đồ nấu, nhưng treo                          lên mà nấu như các sắc tộc vùng Bắc Âu, cách thứ ba là                          đặt, để đồ nấu trên một dụng cụ ba chân bằng ba cục đất                          nặn, hay ba hòn đá, hay ba que sắt của một cái kiềng gắn                          liền vào nhau bằng một vòng tròn. Đó là một dụng cụ khá                          phổ biến suốt từ vùng Địa Trung Hải, Âu Châu sang Phi                          Châu đến Viễn Đông chỉ cần ba chân, không thể là hai vì                          không đủ&lt;br /&gt;                         vững chắc, không cần đến bốn vì thừa&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;strong&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot; size=&quot;4&quot;&gt;SỰ TÍCH                          ÔNG ĐẦU RAU&lt;/font&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;strong&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;Cấu trúc và ý                          nghĩa:&lt;/font&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;Có nhiều chuyện kể                          khác nhau về sự tích này, không cót truyện giống nhau.                          Không cần xác định chuyện nào là gốc) chính chuyện nào                          là cải biến, phụ vì càng có nhiễu chuyện kể khác nhau                          càng làm nổi bật cốt truyện chung cho tất cả, do đó về                          phương diện nghiên cứu, càng dễ xác định cái gì là&lt;br /&gt;                         cốt yếu không thay đổi, cái gì là tùy thuộc, thay đổi                          trong các chuyện kế khác nhau. Để tiện việc trình bày,                          chúng tôi gọi những chuyện kể là các thoại của&lt;br /&gt;                         sự tích. Qua các thoại, chúng tôi rút ra những yếu tố                          không thay đối tạo thành cấu trúc của tất cả các thoại                          và sau cùng tìm hiểu xem người xưa đã vận dụng kinh                          nghiệm tiếp xúc với vật chất (ở đây là với lửa) thế nào                          để bày tỏ những ý nghĩ của mình về những giá trị tinh                          thần, đạo đức.&lt;/font&gt;&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;strong&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;Thoại 1&lt;/font&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;Hai vợ chồng nghèo                          làm nghề thuê mướn. Tuy nhà nghèo nhưng rất thương yêu                          nhau. Buổi tối thường ngồi bên bếp lửa kể chuyện ca hát                          cho nhau nghe... Xảy đến một năm mất mùa gây ra tình                          trạng đói kém khắp nơi. Hai vợ chồng đi tìm việc làm,                          nhưng không ai nhận thuê nữa. Túng bấn quá, phải đi mò                          cua bắt ốc, đào củ hái rau về ăn đỡ đói. Không thể chịu                          đựng được nữa, một hôm chồng bảo vợ: Tôi phải đi nơi xa                          kiếm ăn, may ra mới thoát khỏi được tình cảnh này. Mình                          ở nhà chờ tôi trong ba năm, nếu hết ba năm không thấy                          tôi về, ấy là tôi đã bỏ xác nơi quê người, mình cứ đi                          lấy chồng khác.&lt;/font&gt;&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;Người vợ khóc lóc                          thảm thiết nhhưng đành lòng để chồng ra đi. Sau đó,                          người vợ kiếm được một chỗ làm mướn ở nhà một người tuy                          không giàu có nhưng vì thương cảnh ngộ nàng nên cố ý                          giúp đỡ nàng qua khỏi cái khốn khổ. Thời hạn ba năm trôi                          qua mau chóng. Người vợ vẫn mong ngóng chồng về. Giữa                          lúc ấy, người vợ của chủ nhà chết. Sẵn có cảm tình với                          nàng, người chủ ngỏ ý muốn nối duyên cùng nàng. Nàng trả                          lời:&lt;/font&gt;&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;- Chồng tôi hẹn trong                          ba năm trở về. Bây giờ tôi mới tin là chồng tôi đã chết.                          Vậy cho tôi để tang chồng ba năm nữa cho trọn đạo trước                          đã. &lt;/font&gt;&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;Ba năm nữa cũng lại                          trôi qua, người chồng vẫn biệt tích. Người chủ thúc giục                          nhưng nàng còn xin nán chờ thêm một năm nữa. Một năm nữa                          lại trôi qua và lần này nàng mới tin chồng chết thật.                          Nàng làm một bữa rượu cúng chồng, đãi họ hàng rồi đến ở                          cùng người chồng mới.&lt;/font&gt;&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;Đột nhiên sau đó ba                          tháng, người chồng cũ trở về, làm cho đôi vợ chồng mới                          cưới không biết ăn nói làm sao. Nhưng người chồng cũ tìm                          tới trấn an họ: &quot;Tôi vắng nhà lâu quá hạn, nàng đã xử sự                          rất đúng. Bây giờ tôi sẽ đi khỏi nơi đây mãi mãi. Mặc dù                          người chồng mới xin trả lại vợ, và người vợ cũ năn nỉ                          người chồng cũ ở lại, người chồng cũ vì không nỡ phá                          hạnh phúc của họ, vẫn nhất quyết ra đi. Nhưng thực ra                          người chồng cũ trong lòng đau xót, không còn muốn sống,                          và đã treo cổ tự tử ở cây đa đầu làng. Cái chết của                          người chồng cũ làm cho nàng bàng hoàng ân hận, tự cảm                          thấy chính mình là thủ phạm, và tự trách mình không đủ                          kiên nhẫn chờ thêm ít lâu nữa. Thế là ngày hôm sau, khi                          dân làng đưa đám người chồng cũ chưa xong, thì mgười vợ                          mất tích và người ta đã tìm thấy xác người vợ tự vẫn                          dưới ao bên cạnh nhà. Người chồng mới, sau khi làm ma                          cho vợ, trở thành người mất trí vì xúc động ân hận trước                          hai cái chết như thể do mình gây ra: &quot;Tại sao lại đi                          cướp vợ của người khác&quot;. Một hôm, ông ta quyết định đem                          hết gia sản chia cho họ hàng, đem cúng nhà chùa rồi uống                          thuốc độc tự tử.&lt;/font&gt;&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;Ở bên kia thế giới,                          cả ba người đều được đưa tới tòa án của Diêm Vương để                          định công tội. Theo các lời khai, người chồng cũ sở dĩ                          chọn cái chết vì vẫn thương yêu vợ không thể sống không                          có nàng, nhưng lại không nỡ phá vỡ hạnh phúc của người                          khác, người chồng mới lại nói tuy rất thương mến người                          vợ mới, nhưng so với người vợ cũ đã chết thì mối tình                          bên mười bên một, còn người đàn bà thì nói vẫn một lòng                          thương yêu người chồng cũ mặc dù nặng tình nghĩa với                          người chồng mới.&lt;/font&gt;&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;Diêm Vương nghe rất                          cảm động và nhận thấy những người như thế này thật hiếm                          có nên cần làm thế nào cho bộ ba ấy sống gần nhau mãi                          mãi. Sau một hồi suy nghĩ, Diêm Vương cho ba người hóa                          thành ba ông đầu rau để cho họ khỏi lìa nhau, và để cho                          ngọn lửa luôn luôn đốt nóng tình yêu của họ. Đồng thời,                          Diêm Vương còn phong cho họ chức Táo Quân trông nom từng                          bếp một, nghĩa là từng gia đình trên trần thế&lt;/font&gt;&lt;/p&gt;                                                  &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;strong&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;Thoại 2&lt;/font&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;Hai vợ chồng Trọng                          Cao và Thị Nhi lấy nhau đã lâu không có con, buồn phiền                          thường cãi cọ nhau. Một hôm giận quá, Trọng Cao đánh vợ,                          Thị Nhi bỏ nhà ra đi gặp Phạm Lang rồi kết duyên với                          người đó.&lt;/font&gt;&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;Trọng Cao hết giận,                          hối hận cũng bỏ nhà ra đi tìm vợ. Tìm mãi không thấy,                          hết cả tiền ăn đường, phải ăn xin lần hồi. &lt;/font&gt;&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;Tình cờ một hôm vào                          một nhà ăn xin, bà chủ mang cơm ra cho, nhận ra chính là                          chồng mình. Đôi bên tỏ hết nỗi niềm cùng nhau, nhưng                          chợt Thị Nhi nghĩ nếu bất thần Phạm Lang trở về bắt gặp                          thì thật khó ăn nói. Nàng liền bảo Trọng Cao ra tạm ẩn ở                          đằng sau đụn rơm, để nàng thu xếp sao cho mọi việc được                          êm thấm. Khi tối Phạm Lang trở về, nhớ đến ngày mai chưa                          có tro bón ruộng, châm lửa đốt đống rơm để lấy tro...                          Trọng Cao vì đi nhiều mỏi mệt ngủ say nên bị đốt chết.                          Thị Nhi cũng đã ngủ, khi thấy đống rơm cháy, chạy ra thì                          đã muộn, xúc động, thương tiếc quá, nàng nhảy vào đống                          rơm chết theo người chồng cũ Phạm Lang thấy vợ chết,                          thương xót cũng nhảy vào đống rơm chết nốt.&lt;/font&gt;&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;Thượng Đế thấy ba                          người đều có nghĩa nên mới phong cho làm Táo quan, mỗi                          người giữ một việc.&lt;/font&gt;&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;Phạm Lang là thổ công                          trông nom việc trong bếp. Trọng Cao là thổ địa trông coi                          việc trong nhà.&lt;/font&gt;&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;Thị Nhi là . . .&lt;br /&gt;                         &lt;br /&gt;                         &lt;/font&gt;&lt;strong&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;Thoại 3&lt;/font&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;Hai vợ chồng nghèo,                          chồng đi buôn, vợ làm ruộng nên chồng thường xa nhà                          thỉnh thoảng mới về, đôi khi đi suốt năm mới về. &lt;/font&gt;                         &lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;Rồi một chuyến đi                          biền biệt  không tin tức, không tiền bạc gởi về                          Người vợ chờ cả 10 năm vần biệt tích. Sau đó người vợ                          lấy một người chồng khác làm nghề săn bắn; người này                          nuôi một đầy tớ tên là Lốc.&lt;/font&gt;&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;Một hôm chồng mới và                          Lốc đi săn vắng nhà, đột nhiên người chồng cũ trở về và                          cho biết sở dĩ đi biền biệt là vì gặp giặc bất lưu lạc                          trong rừng nay mới trốn thoát về được Người vợ chỉ còn                          biết ôm chồng cũ khóc than, và dọn cơm rượu mời ăn. Khi                          chồng mới sắp về người vợ đưa chồng cũ ra đống rơm ẩn                          tạm. Chủ và tớ đi săn về được một con cầy. Chồng giục vợ                          đi sắm mọi thứ để làm một bữa chén.&lt;/font&gt;&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;Trong khi người đàn                          bà đi vắng, người chồng và đầy tớ đốt đống rơm để thui                          cầy. Lửa vô tình đốt cháy thiêu người chồng cũ đang ngủ                          say. Giữa lúc đó, người vợ về thấy thế, rất đau đớn, tự                          cảm thấy như thể vì mình mà chồng cũ chết, nên nhảy vào                          đống lửa chết theo.&lt;/font&gt;&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;Người chồng mới                          thương tiếc vợ, cũng đâm đầu vào lừa. Người đầy tớ vừa                          thương chủ vừa hối hận vì chính tay mình châm lửa thiêu                          chết người cũng nhảy nốt vào lửa chết theo.&lt;/font&gt;&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;Ba vợ chồng sau đó                          được Diêm Vương cho hóa làm ba ông đầu rau. Còn người                          đày tớ được hóa làm đồ dùng chặn đống nhấm, quen gọi là                          &quot;thằng Lốc&quot;. Trong tranh vẽ Táo quân, thường thấy vẽ                          người đầy tớ có nghĩa đứng cạnh ba người&lt;/font&gt;&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;&lt;br /&gt;                         &lt;strong&gt;&lt;font size=&quot;4&quot;&gt;Phân Tích&lt;br /&gt;                         &lt;/font&gt;Cấu Trúc Sự Tích&lt;/strong&gt;&lt;/font&gt;&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;Nói chung, sự tích                          thường có cấu trúc gồm một số yếu tố chính không thay                          đổi: Hoàn cảnh mở đầu, một chuyện chẳng lành, không may                          hay tai họa xảy ra, phải ra đi, phân ly, thử thách, trở                          về. Sự tích không kết thúc sau một đợt thử thách mà                          thường trải qua hai ba đợt thử thách. Trở về lại gặp khó                          khăn, một điều không may mới, trầm trọng hơn thử thách                          khác, cố gắng vượt qua... Cuối cùng, bao giờ cũng có sự                          can thiệp của nhân vật thứ ba (ân nhân, thần linh) mới                          làm cho việc sum họp trọn vẹn... &lt;/font&gt;&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;Những yếu tố cấu tạo                          sự tích có thể xếp thành những cặp phạm trù đối lập nhị                          hạng: Tai họa - diệt tai họa; ước hẹn - lỗi hẹn; ra đi -                          trở về; phân ly - sum họp; thử thách - đáp ứng; thiếu                          sót - đền bù đầy đủ (ân nhân thần linh).&lt;/font&gt;&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;Những yếu tố cấu tạo                          kể trên không thay đổi, nhưng cách thể hiện chúng như                          tình cảnh cụ thể của các nhân vật: Chức vụ, nghề nghiệp,                          do, cách thức ra đi, ai ra đi là những yếu tố tùy thuộc,                          có thể thay đổi. &lt;/font&gt;&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;Yếu tố cấu tạo chính                          hay chức năng cơ bản, nói theo Propp, có tính chất bắt                          buộc trong mọi loại chuyện cồ tích là một biến cố chẳng                          lành, một tai họa xảy ra.&lt;/font&gt;&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;Trong Thoại 1, có                          nhân vật phụ là người vợ người chủ, không tham gia gì                          vào sự tích, chỉ xuất hiện như một cái cớ để người chồng                          dễ tái giá một cách hợp đạo lý. Trong Thoại 3, nhân vật                          đày tớ có tham gia vào sự tích nhưng chẳng qua chi để                          phụ họa thêm, đề cao lòng chung thủy chung tình là chủ                          đề của sự tích (chung thủy giữa vợ chồng, chung thủy                          giữa chủ và tớ). Trong khuôn khổ chủ đề chung thủy,                          chung tình, sự tích đặc biệt qua Thoại 1 còn đề cao sự                          tự hiến, hi sinh hạnh phúc riêng vì hạnh phúc của người                          khác. Bài học đạo đức rút ra là: Hi sinh không phải mất                          hết, mà chính là mất để được hết, vì bao giờ những kẻ hi                          sinh cũng được đền bù, thưởng công xứng đáng...&lt;/font&gt;&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;Những ý tưởng trên,                          ai nghe, ai đọc sự tích đều dễ dàng nhận ra, cũng như                          nghe một người nói, có thể hiểu và nhớ được ý nghĩa lời                          nói qua những câu nói. Cái gì làm cho ta hiểu, nhớ và                          thuật lại được câu chuyện đã nghe kể, đó là một trật tự                          lý luận thuộc ngữ pháp. Cũng vậy, sự tích bao hàm một                          trật tự luân lý tạo thành một cấu trúc gồm những yếu tố                          không thay đổi và những yếu tố phụ thuộc thay đổi.&lt;br /&gt;                         Điều cốt yếu là phải có một sự kiện chẳng lành, không                          may xảy ra, còn sự kiện không may, chẳng lành đó là gì,                          mang hình thức nào, diễn ra như thế nào không quan trọng,                          được tự do sáng tác, thay đổi tùy tiện. Đó là lý do giải                          thích tại sao sự tích thường có nhiều loại khác nhau.                          Phân tích cấu trúc là trình bày trật tự luân lý bao hàm                          trong các thoại khác nhau của sự tích.&lt;/font&gt;&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;Nhưng phân tích cấu                          trúc chưa cho thấy mối liên hệ giữa sự tích về tình                          nghĩa vợ chồng và lửa bếp. Thực ra không phải chỉ tình                          nghĩa vợ chồng mà cả tình yêu nói chung trong kinh                          nghiệm sống của nhiều dân tộc đều liên hệ với kinh                          nghiệm về lửa như những từ ngừ, hình ảnh, ẩn dụ kiểu nói:                          mối tình nồng nhiệt nhiệt tình, nóng lòng chờ đợi, lòng                          bốc cháy tình yêu, nguội tình... thường được sử dụng để                          diễn tả những biểu lộ của tình yêu. Trong Thoại không                          khí lửa bếp soi sáng sưởi ấm gắn liền với không khí vợ                          chồng thân mật ấm cúng. Sau khi được đoàn tụ, cả ba                          người được trao nhiệm vụ coi lửa bếp, để lửa luôn luôn                          đốt nóng tình yêu của họ... &lt;/font&gt;&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;Trong Thoại 2, lửa                          thiêu đốt rơm làm tro bón ruộng, nướng chín động vật và                          sau cùng thiêu đốt cả những người yêu nhau mà đâm vào                          lửa chết. . . &lt;/font&gt;&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;Lửa thiêu đốt củi,                          rơm, trấu... để soi sáng, sưởi ấm, làm chín... phục vụ                          con người. Sau khi thiêu đốt phục vụ cũng bị tiêu diệt,                          tan biến đi. Thời gian tồn tại của lửa cháy đôi khi rất                          vắn vỏi, như ánh chớp của sét, chỉ lóe lên soi sáng                          trong khoảnh khắc rồi tan biến ngay trong đêm tối... &lt;/font&gt;                         &lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;Hình ảnh tự tan biến                          đi sau khi đã phục vụ là hình ảnh cao đẹp nhất của lửa                          cháy vì cho mà không giữ lại gì hay được đáp lại gì cả.                          Hoàn toàn vô vị lợi, vì người khác. Người xưa đã mượn                          hình ảnh cao đẹp trên của lửa cháy để bày tỏ thái độ hi                          sinh quên mình của những người sẵn lòng chết vì yêu                          thương người khác.&lt;/font&gt;&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;&lt;strong&gt;Chú thích:&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;                         (l) Năm 1928 các nhà cổ sinh vật học tìm thấy ở vùng gần                          Bắc Kinh những sọ người cùng với một số đồ dùng thô kệch                          và tro có thể do nấu nướng mà ra trong các hang động.                          Trên cơ sở đó mà nêu giả thuyết con người bắt đầu biết                          dùng lửa để làm chín đồ ăn vào thời kỳ con người Bắc                          Kinh (Xem André Le roi - Gouhan. L&#039; Homme ét la matìere,                          trang 65)&lt;/font&gt;&lt;/p&gt;                         &lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;font face=&quot;Arial&quot;&gt;NGUYỄN VĂN TRUNG&lt;/font&gt;&lt;/p&gt;</description>
      <pubDate>07.09.2008 22:18</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=33</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Cây cầu phúc đức</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=34</link>
      <description>&lt;div align=&quot;center&quot;&gt;Truyện Chiếc cầu phúc đức khuyên con người sống ở đời nên làm nhiều việc thiện sẽ gặp được phúc lành&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;Một chàng trai sinh ra trong gia đình ba đời sống nhờ ăn trộm. Một ông quan giàu có nhưng tổ tiên ba đời làm quan ức hiếp dân lành. Đều là những người bất hạnh, họ gặp nhau và quyết tâm làm nên chiếc cầu phúc đức bắc qua sông. Cuối cùng, chàng trai nghèo lấy được vợ, có được sự sung túc và ông quan có con theo ý muốn. Truyện Chiếc cầu phúc đức khuyên con người sống ở đời nên làm nhiều việc thiện sẽ gặp được phúc lành.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày xưa có anh chàng chuyên sống về nghề ăn trộm. Trong nhà còn có mẹ già phải nuôi. Tuy có lúc được nhiều, có lúc được ít, nhưng trong nhà không bao giờ có của để dành. Hai mẹ con chàng thường phải chịu bữa ăn, bữa nhịn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một hôm, nhân ngày giỗ cha, mẹ chàng ôn lại cho chàng nghe cuộc đời của ông và cha chàng xưa kia.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Xưa kia ông nội của chàng cũng làm nghề ăn trộm, có đêm kiếm được những món đáng bạc chục, bạc trăm, vậy mà khi nhắm mắt xuôi tay cũng không để lại cho cha chàng được chút gì.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rồi đến đời cha chàng. Lớn lên, không biết chọn nghề gì khác tốt hơn, cha chàng lại nối nghề ông cụ, đến đêm lại đi rình mò hết làng trên đến xóm dưới, mà cũng không bao giờ kiếm được nổi hai bữa cho hai vợ chồng và đứa con. Rồi cha chàng chết đi cũng không có gì để lại. Nay đến đời chàng, lao theo cái nghề này đã gần hai chục năm rồi mà tay trắng vẫn hoàn trắng tay. Đã vậy, chàng cũng không tìm được nổi một người vợ, mặc dầu đã gần bốn chục tuổi đầu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ôn lại đời cha ông xưa và nhìn cuộc đời mình chàng không khỏi thấy ngán ngẩm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một đêm, chàng đến rình nhà ông thầy đồ ở xóm bên, định ăn trộm cái thủ lợn mà một nhóm học trò mang đến biếu. Rình mãi tới khuya, ông thầy vẫn chưa đi ngủ, ông đọc hết trang sách này tới trang sách khác. Chợt ông thầy đọc tới câu: &quot;Tích thiện chi gia tất hữu dư hương; tích bất thiện chi gia tất hữu dư ương&quot;[1] . Chàng bụng bảo dạ: &quot;Phải chăng ông cha ta làm nghề thất đức nên để khổ nhục lại cho ta&quot;? Rồi tự đáp: &quot;Phải, quả thật đúng như vậy&quot;. Đoạn chàng chạy một mạch về nhà, quyết từ nay bỏ nghề ăn trộm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sáng hôm sau, chàng vác búa vào rừng hái củi mang ra chợ bán. Công việc thật là vất vả, hái được một gánh củi chàng phải đổi một bát mồ hôi mới kiếm được một món tiền mua gạo, nhưng chàng thấy yên tâm hơn mọi ngày. Tuy vậy, đi đến đâu, chàng cũng nghe tiếng người xì xào: &quot;Cẩn thận đấy! Cái thằng ba đời ăn trộm đã đến kia!&quot;. Cái tiếng &quot;ba đời ăn trộm&quot; làm cho chàng buồn bã. Chàng nghĩ: &quot;Từ nay ta phải làm những việc gì phúc đức họa may mới xóa được mấy tiếng đó&quot;.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một ngày mùa hạ, trời mưa to nước lũ tràn về. Chàng đem củi đi chợ bán, vì nước lũ tràn về nhanh quá, không thể lội qua sông như mọi hôm được. Hàng trăm người ùn lại vì chưa có đò, mặt trời đã khuất sau rặng núi, mà mọi người vẫn loay hoay ở bờ sông. Chàng bèn nghĩ tới việc bắc một cái cầu. Đêm ấy, ngủ lại bến sông cùng với nhiều người khác, chàng đem chuyện bắc cầu ra hỏi bà con, nhiều người nói:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Đó là một điều phúc đức được muôn ngàn người nhớ ơn. Trước đây cũng đã có người làm nhưng rồi lại bỏ dở...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sáng hôm sau, nước rút, chàng lội sông về nhà, tới nhà, chàng đem ý định bắc cầu ra hỏi ý kiến mẹ. Mẹ chàng rất vui và giục chàng dốc sức bắc cầu!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ đó, cứ sáng chàng lên rừng chặt cây; chiều ra sức chuyển gỗ; trưa cố hái thêm một gánh củi để về cho mẹ đi chợ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chàng làm việc quên ngày tháng. Buổi chặt cây, buổi chuyển gỗ, buổi bắc cầu, không bao lâu đã bắc được hơn chục sải cầu. Công việc còn nhiều nặng nhọc vì con sông rộng gần hai trăm sải. Vì ăn đói mà làm nhiều nên chàng bị kiệt sức. Một hôm đói quá chàng nằm lăn ra mê man ở đoạn cầu đang làm dở. Những người đi qua xúm lại cứu chữa, nhưng chàng vẫn chưa hồi tỉnh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Giữa lúc ấy có một viên quan võ đi đến, thấy một đám đông đang xúm quanh một người nằm sõng soài, viên quan xuống ngựa đến gần hỏi chuyện. Mọi người cho biết đây là anh chàng bắc cầu làm phúc đang làm thì vì mệt quá mà lăn ra ngất đi... Viên quan liền mở túi lấy thuốc cho chàng uống. Được một lúc, chàng bắc cầu tỉnh lại, mọi người tản dần ra về, viên quan ngồi lại bên chàng ân cần hỏi chuyện. Chàng thật thà kể hết cho ông nghe cuộc đời của mình và nói rõ ý định cùng công việc đang làm. Viên quan võ nghe nói ra chiều cảm động, ông ngồi ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Xưa kia cha ông chàng làm nghề thất đức để cho chàng ngày nay phải đói nghèo. Nay, chàng muốn làm điều phúc đức để chuộc lỗi lầm xưa kia, quả là hay vô cùng! Về phần tôi, tôi xin nói thật: cha tôi, ông tôi, ông cụ ông kỵ tôi, đời đời làm quan ức hiếp dân lành, bóp hầu bóp cổ để nã tiền, nã của. Đấy cũng là điều thất đức, vì vậy đến tôi ngày nay trời quả báo: lấy vợ đã hơn hai mươi năm rồi mà không có một đứa con để vui cửa vui nhà, cho nên, tuổi đã ngoài bốn mươi, chúng tôi vẫn phải sống hiu quạnh. Nay tôi cũng muốn làm điều phúc đức để chuộc lỗi lầm xưa, chẳng hay chàng có cho tôi góp sức cùng nhau bắc cầu được không?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chàng bắc cầu vui mừng nói:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Nếu quan lớn có chí hướng như vậy thì cái cầu này sẽ chóng xong, dân chúng sẽ mau được qua lại, còn gì tốt hơn!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hai người bèn kể cho nhau biết tên tuổi, quê quán rồi kết làm anh em, viên quan võ hơn chàng bắc cầu bốn tuổi, được nhận là anh. Chàng bắc cầu nói:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Em còn có mẹ già ở nhà, vì nhà nghèo, phải bán củi lấy tiền mua gạo cho nên ngày nào em cũng phải đem củi về nhà để sáng hôm sau mẹ đem củi ra chợ bán lấy tiền.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Viên quan võ thân mật bảo chàng:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Anh có nhiều tiền của, anh sẽ bỏ ra nuôi mẹ để em khỏi phải bận tâm, như vậy chúng ta sẽ chuyên chú vào việc bắc cầu, em nghĩ thế nào?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chàng bắc cầu nói:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Nếu vậy thì còn gì hay hơn!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ đấy, hàng ngày hai anh em cùng nhau lên núi đốn cây, chuyển gỗ. Chẳng bao lâu, hai người đã dựng xong chiếc cầu gỗ hơn hai trăm sải. Dân chúng ai cũng vui mừng, họ đặt tên là cầu Phúc Đức. Các cụ hai làng hoan hỉ cùng nhau bàn định góp tiền làm một bữa tiệc ăn mừng cầu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày ăn mừng chiếc cầu, các vị bô lão và tất cả dân chúng quanh vùng nô nức đến dự, ai cũng cầu xin Ngọc Hoàng ban phúc cho hai người bắc cầu, họ ăn uống linh đình suốt cả buổi sáng. Bỗng một cơn gió bất chợt kéo đến, gió thổi mạnh, làm cúi rạp ngọn cỏ nghiêng ngả cành cây. Gió thổi mỗi lúc một mạnh, rồi bất thình lình cuốn anh chàng bắc cầu đi mất. Viên quan võ thất thanh kêu gọi, tất cả mọi người đều ngậm ngùi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thấy người em kết nghĩa của mình hết lòng hết sức hàng ba năm trời ra làm cầu mà lại không được hưởng phúc, viên quan xót xa lắm. Sau khi mọi người đã ra về, ông đón vợ sang ở chung với bà cụ để sớm hôm trông nom, phụng dưỡng bà thay người em kết nghĩa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lại nói đến chàng bắc cầu bị gió lốc cuốn tới một cái hang trên một ngọn núi cao. Chàng lảo đảo đứng chưa kịp vững. Cơn gió bỗng vụt hóa thành người tươi cười nói với chàng:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Nhà ngươi chớ sợ, ta là thần Gió được Ngọc Hoàng sai đi đón nhà ngươi về đây để thưởng cho ngươi cái công thành tâm làm chuyện phúc đức. Bạc vàng đấy, nhà ngươi muốn lấy bao nhiêu thì lấy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chàng bắc cầu nhìn vào hang thấy đống vàng sáng chói. Chàng cởi áo gói lấy một số vàng, rồi buộc lại cẩn thận, chàng vác gói vàng lên vai, tiến ra cửa hang, thần Gió lại hóa thành cơn gió lốc cuốn chàng đi, trả về bản và đặt chàng nhẹ nhàng xuống giữa sân nhà.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chàng bắc cầu sung sướng để gói vàng xuống rồi lên tiếng gọi cửa. Nghe tiếng gọi, mẹ chàng và hai vợ chồng viên quan võ tưởng là hồn chàng bắc cầu hiện về, liền dắt nhau lại ngồi quanh chiếc bàn thờ thắp hương khấn vái lầm rầm. Nhìn qua kẽ liếp thấy ba người vừa cúi lạy, vừa khấn, chàng bắc cầu bật cười lại một lần nữa chàng lên tiếng gọi:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Mẹ ơi! Anh ơi! Em đây mà! Em hãy còn sống trở về nhà đây! Mau mau mở cửa!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nghe rõ tiếng gọi của con, bà mẹ mừng quýnh, lật đật xuống giường. Vợ chồng viên quan võ cũng chạy ra mở cửa, đón người em kết nghĩa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chàng bắc cầu ngồi xuống kể lại ngọn ngành câu chuyện được thần Gió đưa đi lấy vàng cho cả nhà nghe, mọi người reo mừng sung sướng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ đấy mẹ con chàng bắc cầu bắt đầu trở nên giàu có, chàng mời hai vợ chồng người anh kết nghĩa ở lại và cùng nhau làm ăn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;ít lâu sau, vợ viên quan võ có chửa, đến tháng đến ngày chị sinh hạ được một con trai. Hai vợ chồng mừng vô kể. Còn chàng bắc cầu ít lâu sau cũng lấy vợ có con và sống sung sướng đến già.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;-------------------------- &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;[1] Nhà làm nhiều điều thiện ắt để lại tiếng thơm. Nhà làm nhiều điều bất thiện ắt để lại tai vạ. (Truyện cổ tích Tày - Nùng)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;</description>
      <pubDate>07.09.2008 22:22</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=34</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Ðôi Sam</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=35</link>
      <description>Giống sam không bao giờ rời nhau, và mỗi khi nước rút, người ta thường thấy sam đực ôm lấy sam cái như hai vợ chồng người thuyền chài đã ôm nhau bay qua biển ngày xưa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày xưa, có hai vợ chồng người thuyền chài nghèo khó rất mực thương yêu nhau. Một hôm chồng ra khơi đánh cá, gặp biển động, sóng gió to, không thấy trở về. Người vợ ở nhà mong đợi không được tin gì, nghĩ chồng đã chôn mình vào bụng cá, thương khóc thảm thiết, muốn đâm đầu xuống biển chết theo, để được gặp lại chồng ở thế giới bên kia. Trong lúc đau thương, người vợ bỗng nằm mơ thấy một vị thần hiện ra bảo:&lt;br /&gt;&quot;Ta là Ngư thần, thấy chị chung tình với chồng như thế, nên thương tình đến mách bảo là chồng chị hiện đương còn sống. Ta cho chị viên ngọc này để vượt biển mà gặp chồng. Nhưng hãy nhớ kỹ là khi ngậm viên ngọc vào miệng để bay thì phải nhắm mắt lại và đừng để rơi viên ngọc, không thì sẽ nguy đến tính mạng&quot;.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chị vợ tỉnh dậy, thấy viên ngọc sáng trong tay, còn vị thần đã biến đâu mất. Đợi sáng ngày, chị ta thử bỏ viên ngọc vào miệng, rồi nhắm mắt lại thì bỗng nhiên gió thổi ù ù, rồi cả người nhấc bổng lên không mà bay đi. Đến khi gió lặng, chị vợ mở mắt ra thì thấy mình trên một bãi cát ở hòn đảo giữa biển, và trước mặt là chồng mình. Người chồng đã bị bão làm đắm thuyền trôi dạt đến đây. Hai vợ chồng bất ngờ gặp lại nhau, hết sức mừng rỡ, kể lại mọi việc từ khi xa cách, rồi bàn định cùng nhau trở về.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người chồng ôm ngang bụng vợ, chị vợ bỏ ngọc vào miệng rồi bay qua biển, giữa đường, anh chồng vui sướng được trở về, hỏi chuyện vợ. Chị vợ mở miệng trả lời, viên ngọc rơi xuống biển, cả hai vợ chồng ôm nhau chìm theo, chết hóa thành đôi sam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Giống sam không bao giờ rời nhau, và mỗi khi nước rút, người ta thường thấy sam đực ôm lấy sam cái như hai vợ chồng người thuyền chài đã ôm nhau bay qua biển ngày xưa.</description>
      <pubDate>07.09.2008 22:23</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=35</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Hai cô gái và hai cục bứu</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=36</link>
      <description>Xưa có một cô gái con nhà nghèo khó, không may cho cô là khi sinh ra đã mang một cục bướu ở mặt. Người càng lớn, cục bướu càng to, vì vậy nhan sắc của cô thua em kém chị. Tuy nhiên cô gái không lấy thế làm buồn, suốt ngày vẫn thường vui đùa ca hát.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một buổi trưa hè, cô theo bạn lên rừng kiếm củi. Vì mải mê tìm nấm, cô vui chân quá bước vào rừng sâu, quên bẵng mất trời đã về chiều và mây thì đang kéo tới mỗi lúc một đen sầm, báo hiệu một cơn dông sắp tới. Quả nhiên khi cô định trở về để gặp chúng bạn thì không kịp nữa. Gió thổi mạnh làm cây rừng xào xạc, cành khô gãy răng rắc, những giọt mưa hắt vào mặt. Bất đắc dĩ cô phải tìm chỗ ẩn. May làm sao cô chạy kịp đến một gốc cây cổ thụ, thu mình chui vào một cái hốc để tránh mưa. Nhưng đến lúc mưa tạnh bước ra khỏi hốc thì trời cũng đã tối mịt. &quot;Các bạn ta bây giờ chắc đã rủ nhau về cả. Đường rừng lại tối đi một mình thật là đáng sợ. Thôi đành ở đây đợi sáng, không còn cách nào khác&quot;. Nghĩ vậy, cô dọn lại chỗ hốc sạch sẽ rồi lách mình vào đó nằm nghỉ, không quên đặt bó củi chắn cửa để đề phòng thú dữ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đến khuya, có những tiếng hát, tiếng cười và tiếng đàn sáo làm cho cô tỉnh giấc. Cô nhìn ra thấy trăng sáng như ban ngày. Ở một bãi đất bằng phẳng phía bên kia gốc cổ thụ có một đám người đang múa hát vui vẻ. Cô bước ra khỏi hốc. Thoạt đầu cô cứ ngỡ là một đám người đi rừng nào đó lên đây sớm ngồi đợi trời sáng nên bày ra múa hát mua vui. Nhưng khi nhìn kỹ thì hoá ra không phải. Đó là những người hình dung dị thường, ăn mặc khác lạ, có những bộ mặt đen đúa đầy lông lá gớm ghiếc. Cô gái bụng bảo dạ: &quot;Đúng là một bọn quỷ&quot;, và cô bỗng rùng mình, nhưng rồi cô liền đánh bạo bước lại nấp sau cây cổ thụ rình xem. Bọn quỷ vẫn múa hát không biết có người đang rình mình. Giọng hát của chúng không hay nhưng thật là vui làm cho cô vui lây. Cho nên cô cũng lẩm bẩm hát theo bằng một giọng nho nhỏ trong cổ họng. Dần dần hứng lên, tự nhiên cô cất cao giọng, quên bẵng là mình đang nấp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nghe tiếng hát, bọn quỷ bỗng im bặt. Rồi cả bọn ùa nhau đến gốc cây. Một đứa nói:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Hà hà, khá quá! Ra đây, ra đây, ta cùng hát cho vui.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rồi chúng dắt cô ra bãi, bảo cô hát tiếp. Cô lấy can đảm hát lại bài hát vừa rồi. Giọng cô rất ngọt làm cho bọn quỷ phải lắng nghe. Xong một bài, chúng tấm tắc khen ngợi rồi nhảy múa thích thú. Chúng lại đưa những quả sim, quả ổi mời cô ăn. Ăn xong, lại bảo cô hát tiếp, rồi chúng còn lần lượt đàn hát và nhảy nhót suốt đêm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tiếng gà rừng gáy buộc bọn quỷ phải ngừng cuộc vui. Một đứa bảo:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Cô hát hay quá! Tối mai đến đây hát nữa nhá!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cô gái đáp:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Cái đó thì cũng còn tuỳ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nó kêu lên:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Ấy, còn tùy thế nào? Chúng mày ơi! Ngộ tối mai cô ấy không đến thì sao?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một đứa chỉ vào cái bướu:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Ta hãy giữ lấy cái này, chắc là của quý. Mai cô đến đây mà lấy nhé!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nói xong phẩy tay một cái, rồi cả lũ biến đi lúc nào không hay.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sáng hôm sau cô gái ra về, lòng mừng khấp khởi. Cục bướu đã được bọn quỷ lấy đi một cách thần diệu, làm cho cô trở nên nhẹ nhõm. Gặp ai cô cũng kể chuyện tối hôm trước cho họ nghe. Chẳng mấy chốc, tiếng đồn đã lan khắp đầu đường xó chợ. Một cô gái con nhà phú ông ở làng bên cạnh cũng không may mang một cục bướu trên mặt, khi nghe câu chuyện, cô này vội vàng đến gặp cô kia xin chỉ chỗ cho mình đi thay, hy vọng nhờ lũ quỷ nhổ cho cái bướu xấu xí trên mặt. Cuối cùng, cô gái nhà phú hộ cũng tìm được đến gốc cây cổ thụ nọ và nấp sẵn trong hốc cây. Nửa đêm, bọn quỷ hiện ra dưới ánh trăng. Chúng tìm đến chỗ cô gái nấp:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Nào, cô hãy xuống hát với chúng tôi đi!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vốn quen thói gắt gỏng, lại thấy những cánh tay lông lá giơ ra kéo lấy áo, cô vội gạt đi:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Buông ra đã nào, tránh để cho tôi xuống. Ôi, kinh tởm!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rồi cô cũng nhảy xuống khỏi hốc, nhưng vẫn tỏ vẻ sợ hãi, gớm ghiếc, không dám lại gần lũ quỷ. Cô để cho chúng giục hai ba lần mới cất giọng hát, song nét mặt thì không được vui. Giọng của cô cũng vì thế mà mất tự nhiên. Mỗi lần cô cố gắng cất cao thì giọng lại the thé, nghe chẳng hay ho gì. Cô mới hát được một bài, bọn quỷ đã tỏ ý không hài lòng! Một đứa nói:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Hôm qua hát hay thế, sao bây giờ thì chán ngắt! Thôi cô về đi cho rảnh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cả lũ quỷ đồng thanh:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Phải đấy, về đi!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tiếng đuổi của lũ quỷ nhao nhao làm cho cô gái phật ý, quay lưng trở lui. Nhưng mới đi được mấy bước, cô đã nghe có tiếng chạy theo: Này cô kia, trả lại cô cái làm tin hôm qua.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cô vừa ngoảnh lại thì thấy có vật gì mềm nhũn văng vào má. Sờ tay vào mới biết bây giờ không phải là một mà có tới hai cục bướu.</description>
      <pubDate>07.09.2008 22:24</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=36</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Người đẹp trong tranh</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=37</link>
      <description>&lt;div align=&quot;justify&quot;&gt;Vào đời Hồng Đức, có một người học trò nghèo, cha mẹ chết sớm, trọ học ở phường Bích Câu, phía Nam thành Thăng Long. Chàng rất hay chữ, tuy chưa đỗ đạt gì người ta cũng gọi chàng là Tú Uyên. &lt;br /&gt;Một ngày, vào mùa xuân, chúa Ngọc Hồ mở hội Vô gia, thiện nam tín nữ ở kinh đô và bốn phương tụ hội rất đông. Tú Uyên không bỏ lỡ cơ hội đi tìm người đẹp. Chàng vui chân đi quanh quẩn mãi đến tận chiều, bèn ngồi nghỉ gốc đa gần chùa. Chợt trông thấy một cái lá bay đến trước mặt, chàng nhặt lên xem, thì ra sau lưng lá có đề một bài thơ đầy những lời trêu ghẹo. Chàng tưởng có người nào đó ở trên lầu cao ném xuống rồi nấp vào một chỗ. Nhưng ngước nhìn mọi nơi, chẳng thấy gì cả. Đương lúc ngơ ngác, Tú Uyên bỗng thấy một đám người từ trong chùa đi ra, trong đó có một cô gái rất đẹp. Thấy nàng liếc mắt đưa tình, chàng lại bắt chuyện. Hai người vừa đi vừa chuyện trò vui vẻ. Lòng Tú Uyên như nở hoa. Nhưng khi sắp đến đình Quảng Văn thì người con gái bỗng nhiên biến mất. Tú Uyên đứng ngẩn ra rất lâu, mãi đến tối mới trở về nhà. &lt;br /&gt;Từ đấy, Tú Uyên đêm mơ ngày tưởng không thiết gì ăn uống, học hành. Nghe tin đền Bạch Mã rất thiêng, chàng đến xin quẻ rồi ngủ đêm tại đền cầu mộng. Đêm ấy, thần hiện ra trong giấc mộng của chàng bảo rằng: “Này anh chàng mê sắc kia, sáng mai hãy đến cầu Đông, ta sẽ cho biết một tin rất tốt”. Hôm sau, chàng y hẹn đến cầu Đông, đợi mãi mới gặp một ông già bán tranh, đưa tới mời chàng mua một bức tố nữ. Chàng mở ra xem thì hình dạng người tố nữ trong tranh chẳng khác gì người mà mình mong đợi. Chàng mua ngay, đem về treo bên cạnh chỗ ngồi. Đến bữa ăn chàng dọn ra hai đôi đũa, hai cái bát mời người trong tranh ăn cùng như mời người thật. Chàng hơi ngạc nhiên cảm thấy tố nữ trong tranh hai má đỏ bừng như có ý thẹn. &lt;br /&gt;Một hôm, Tú Uyên đi học về thì thấy giữa giường đã có sẵn sàng một mâm cơm có thức ăn ngon, khác với mâm cơm rau thường ngày. Tuy chưa hiểu có ai cho nhưng đói bụng, chàng cũng ngồi vào ăn. Tiếp mấy hôm sau, mâm cơm đều dọn như thế. Chàng nửa ngờ nửa mừng không hiểu ra làm sao. &lt;br /&gt;Hôm khác chàng giả tảng đi học, nửa đường lộn về nấp ngoài cửa sổ dòm vào. Chàng thấy tố nữ từ trong tranh bước ra dọn dẹp nhà cửa và xuống bếp làm cơm. Chàng đột ngột xô cửa bước vào nắm lấy tay nàng mà rằng: &lt;br /&gt;- Để tôi bấy lâu trông đợi mòn mỏi con mắt! Thôi, bây giờ nhất định không cho nàng ra khỏi đây đâu! &lt;br /&gt;Nói xong, Tú Uyên giật bức tranh trên tường xé đi. Người con gái đỏ hai gò má, se sẽ đáp lại: &lt;br /&gt;- Sao chàng ác thế, thiếp đã lạc vào nhà chàng rồi, đâu dám không vâng lời. &lt;br /&gt;Rồi nàng cho biết tên mình là Giáng Kiều, vốn có duyên nợ với chàng nên được xuống trần cùng kết làm đôi lứa. Tú Uyên tưởng không có gì sung sướng hơn thế nữa. Chàng giơ tay lên trời thề bồi. Hai người chuyện trò hồi lâu. Tú Uyên gịuc nàng thành thân. Giáng Kiều bảo: &lt;br /&gt;- Để thiếp bày tiệc mời các bạn tiên đến chứng kiến cho lễ cưới của đôi ta. &lt;br /&gt;Nói xong, nàng rút trâm trên đầu hoá phép thành một màn gấm rèm ngọc, kẻ hầu người hạ rầm rập, đồ ăn thức uống lộng lẫy. Chỉ một lát cỗ bàn bày ra, đàn sáo vang lừng, các bạn tiên lần lượt đến ăn uống trò chuyện, ca hát nhảy múa rất vui vẻ. &lt;br /&gt;Nhưng từ ngày được vợ đẹp Tú Uyên không buồn giở đến sách nữa. Suốt ngày chàng ở bên vợ và đặc biệt một điều là chàng thích uống rượu và ăn ngon. Giáng Kiều khuyên can mãi nhưng Tú Uyên chứng nào vẫn tật ấy. Ba năm trôi qua, chàng không lai vãng đến học hành. Dần dà chàng trở nên nghiện rượu, đã uống là uống đến say, khi say không biết trời đất là gì, thậm chí nhiều lần chửi mắng vợ. Giáng Kiều giận lắm, một hôm chồng từ tửu quán khật khưỡng bước về, nàng vực vào giường rồi nhân chồng ngủ thiếp đi, nàng bay về trời. &lt;br /&gt;Tỉnh rượu, Tú Uyên không thấy vợ đâu, rất lấy làm hối hận, suốt một tháng, chàng bỏ ăn, bỏ ngủ, kêu khóc thảm thiết. Bạn bè hết lời khuyên dỗ nhưng chàng không sao giảm được ưu sầu. Giận thân, chàng chỉ muốn tự vẫn cho xong đời. Nhưng khăn vừa vắt lên xà thì bỗng có trận gió thoảng đưa mùi hương đến. Giáng Kiều đã hiện ra trước mặt. Chàng vừa mừng vừa thẹn, thề xin chừa hẳn rượu, hai vợ chồng lại vui vẻ như xưa. &lt;br /&gt;Chẳng bao lâu Giáng Kiều sinh được một bé trai, đứa bé lớn lên rất thông minh và ngày một giỏi. &lt;br /&gt;Một đêm nọ bỗng có hai con hạc đến đón ở sân, hai vợ chồng dặn con ở lại rồi cưỡi hạc bay lên trời. &lt;span class=&quot;info&quot;&gt;&lt;font color=&quot;#ccccf0&quot;&gt;&lt;/font&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;</description>
      <pubDate>20.09.2008 23:46</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=37</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Thần Giữ Cửa</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=38</link>
      <description>&lt;div align=&quot;justify&quot;&gt;&lt;font color=&quot;#993300&quot; 4=&quot;&quot;&gt;&lt;em&gt;N&lt;/em&gt;&lt;/font&gt;gày Xưa có hai anh em nhà kia rất nghèo nàn. Cả hai anh em chỉ chuyên nghề bán rau đốn củi đổi gạo sống qua ngày. &lt;br /&gt;Tuy nghèo, hai anh em vẫn nhân từ phúc hậu thường hay bố thí chén cơm, chén gạo cho kẻ già yếu tật nguyền. Trong nhà có nuôi con chó cái lúc nọ đẻ ra con chó trắng chỉ có ba chân. Làng xóm cho là quái vật hiện lên khuyấy phá bảo giết đi, anh em chẳng những không giết mà còn nuôi dưỡng con chó đến ngày khôn lớn. &lt;br /&gt;Một hôm hai anh em đang ngồi ăn cơm, chợt thấy một ông lão ăn mày chống gậy vào cửa xin cơm. Cả hai đều nhường cơm cho lão ăn mày ăn no. Ăn xong ông lão ăn mày nói: &lt;br /&gt;- Tiếng đồn quả thật không sai, hai anh em một nhà đều là người nhân đức, đáng được thưởng. Ta nay không phải là kẻ ăn mày nghèo khó mà là Thần giữ kho vàng Sơn Tây, lúc nãy muốn thử lòng các ngươi, nay ta đã biết rồi. Ta muốn ban cho các ngươi kho vàng. &lt;br /&gt;Ông lão ăn mày tức thần giữ của kho vàng tiếp rằng: &lt;br /&gt;-Ngày xưa có một vị quan Tàu tên là Mã Kỳ, có chôn giấu tại một khu vườn thuộc huyên Lập Thạch tỉnh Sơn Tây một kho vàng và phong ta làm Thần giữ của, hẹn đúng một trăm năm thì có người trở lại lấy. Ta trong đợi mãi, hơn một trăm năm rồi chẳng thấy người của Mãû Kỳ trở lại, nhân thấy các ngươi nghèo khổ mà có lòng nhân đức nên ta định đem kho tàng tặng cho các ngươi. Nhưng các ngươi phải đợi đủ một trăm ngày à phải có một con chó trắng (tức chó cò) ba chân đem trước của kho tàng tức là tòa miếu cổ ở khu vườn, bắt nó sủa lên ba tiếng, tự nhiên cửa kho tàng bên cái kệ đámở ra. Thôi các ngươi hãy cố nhớ lời, ta xin kiếu. &lt;br /&gt;Nói rồi, Thần giữ của biến đi. Hai anh em đợi đúng một trăm ngày, dắt con chó cò đến miếu hoang, tới bên cái bệ đá, bắt chó sủa lên ba tiếng, tức thì cánh cửa đặt ngầm trong cái bệ đá mở toang, nhìn vào trong thì thấy một dãy chum vại nằm kề liền nhau. Hai anh em bước vào mở nắp chum vại ra xem thấy toàn vàng và bạc. Đem về đếm được một nghìn cân vàng và ba vạn cân bạc. &lt;br /&gt;Từ đó, hai anh em trở nên giàu có lớn. Gặp lúc Mạc Đăng Dung chiếm đoạt ngôi nhà Lê, hai anh em nhờ người cận thần tiến dẫn đem biếu Mạc Đăng Dung một trăm cân vàng, một trăm cân bạc. Vua Mạc cho thâu nhận rồi phong cho hai anh em tước Quận công. &lt;br /&gt;Cách ba năm sau, có năm, sáu người Tàu dắt một con chó trắng đến ngay tòa miếu chôn của mở cửa kho vàng, họ chỉ thấy kho vàng trống trơn. Họ kêu khóc thảm thiết. Hai anh em Quận công sai người gọi họ đến thì họ đáp rằng: &lt;br /&gt;- Chúng tôi là con cháu của Mã Kỳ ở bên Trung Quốc, trăm năm trước tổ phụ của chúng tôi có để tại Sơn Tây một kho tàng châu báu, hiện còn gia phả để lại đàng hoàng, nhưng chúng tôi đến đây rồi, thì kho tàng không biết ai đã lấy mất rồi, vì vậy chúng tôi buồn khổ mà khóc. &lt;br /&gt;Hai anh em Quận công nói rằng: &lt;br /&gt;- Nhờ thần nhân chỉ bảo, nên anh em chúng ta lấy được kho vàng. &lt;br /&gt;Mấy người Tàu liền hỏi: &lt;br /&gt;- Làm sao các ngươi lấy được kho vàng, vì muốn mở cửa kho vàng phải có con chó cò ba chân mới mở được. &lt;br /&gt;Anh em Quận công bảo rằng: &lt;br /&gt;- Nhà chúng ta có sẵn. &lt;br /&gt;Rồi anh em thuật cho họ nghe, chuyện con chó cái nhà mình đẻ ra con chó trắng mà mọi người cho là quái vật, cho họ nghe. &lt;br /&gt;Họ nói: &lt;br /&gt;-Thế thì trời đã giành cho các ngài, chớ giống chó có ba chân chỉ có quận Sầm Châu tỉnh Quảng Đông bên Tàu mới có mà thôi. Bây giờ của các ngài đã lấy rồi, chúng tôi còn giữ lấy con chó làm gì nữa, vậy xin tặng luôn các ngài đó. &lt;br /&gt;Hai anh em Quận công thương tình, cho họ ba chục cân vàng và một trăm cân bạc để làm lộ phí trở về Tàu.&lt;/div&gt;</description>
      <pubDate>20.09.2008 23:48</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=38</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Ăn Trầu Ngắt Đuôi</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=39</link>
      <description>&lt;p&gt;Thuở ấy, ở xóm kia có chàng thanh niên và cô thiếu nữ rất xứng đôi vừa lứa. Cha mẹ của đôi bên đều bằng lòng kết tình thông gia nhưng chưa nói cho con mình biết. &lt;br /&gt;Vì quá yêu nhau, hằng đêm cô thiếu nữ lén mở cửa phòng rước cậu trai vào tình tự. mãi đến gà gáy hừng đông, cậu trai mới ra về. Cứ như vậy ngày này qua tháng kia. &lt;br /&gt;Buổi nọ, trước khi về, cậu trai ao ước được ăn một miếng trầu. Nhìn trong khay thấy hết trầu, cô thiếu nữ liền chạy ra vườn hái lá đem vô, têm vôi, mời chàng. Dè đâu miếng trầu nhai chưa dập chàng nọ ngã lăn, trào đờm rồi chết. Hoảng hốt nàng tri hô lên. Quan chạy lại khám xét tử thi, thấy nhiều đốm đỏ loang khắp mình. &lt;br /&gt;Thế là cô nọ bị bắt giam để xét hỏi vì tội bỏ thuốc độc giết người. Cô cứ một mực kêu oan. Cuộc tra tấn kéo dài, lần lần cô trở nên ốm o gầy mòn, gần chết trong ngục. &lt;br /&gt;May sao, có ông quan Án đi qua. Quan Án hỏi cô: &lt;br /&gt;- Đầu đuôi tự sự như thế nào? Mi phải khai rõ. &lt;br /&gt;Cô nọ nói sự thật. Nghe xong, vị quan suy nghĩ, gật đầu. Ông đi ra ngoài vườn xem từng lá trầu trên nọc. Ông chú ý: mấy lá ở sát gốc đều dính một chất gì nhớt ngay chót đuôi lá, giống như là con ốc, con sên bò qua nhả nước miếng. &lt;br /&gt;Nhưng không thấy con ốc, con sên nào cả! &lt;br /&gt;Ông quá tức trí, ra lệnh đào dưới đất, ngay nọc trầu đào thật sâu, bỗng nghe tiếng khò khè. Rõ ràng là con thuồng luồng nằm khoanh trong hang. Dân chúng chạy tứ tán. &lt;br /&gt;Ông quan nói: &lt;br /&gt;- Con thuồng luồng này hàng đêm lén bò lên mặt đất để kiếm nước uống. Vì quá khát nước, nó phải liếm mấy giọt sương đọng ở chót đuôi mấy lá trầu gần mặt đất. Nọc con thuồng luồng dính lại trên lá nên giết người. Cô gái này bị hàm oan. &lt;br /&gt;Chòm xóm nhìn nhận lời vị quan nọ là chí lý, tài trí như Bao Công thuở trước. Từ đó về sau, trước khi têm trầu, ai nấy đều ngắt chót đuôi lá vì sợ nọc con thuồng luồng. Bây giờ, giống thuồng luồng không còn nữa nhưng thói quen của con người hãy còn... &lt;/p&gt;</description>
      <pubDate>20.09.2008 23:51</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=39</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Con muỗi</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=40</link>
      <description>&lt;div id=&quot;fontchu&quot; style=&quot;line-height: 150%&quot; align=&quot;justify&quot;&gt;Ngày xưa, có một người nông dân hiền lành tên là Ngọc Tâm, có một người vợ xinh đẹp tên là Nhan Diệp. Khác hẳn với tính tình đơn giản của chồng, quanh năm chăm chú làm ăn, người vợ lười biếng xa hoa, chỉ lo thỏa thê sung sướng. &lt;br /&gt;Trong lúc hai vợ chồng tưởng chung sống với nhau đến răng long đầu bạc, thì Nhan Diệp bỗng lăn ra chết. Người chồng đau đớn quá, không muốn rời xa xác vợ, bèn bán hết tài sản, mua một chiếc thuyền chở quan tài vợ thả bồng bềnh trên mặt nước. &lt;br /&gt;Một buổi sớm mai thuyền đi đến dưới chân một ngọn núi cỏ cây ngào ngạt. Ngọc Tâm lên bờ thấy đủ các kỳ hoa dị thảo, cây cối nặng chĩu trái, lấy làm lạ bèn phăng lần lên cao. Lưng chừng núi, Ngọc Tâm gặp một ông lão tướng mạo phương phi, râu tóc bạc phơ, tay chống gậy trúc đang lần bước. Thấy người có vẻ tiên phong đạo cốt, đoán chừng là thần tiên ở núi Thiên Thai xuất hiện, Ngọc Tâm bèn sụp lạy, rồi thiết tha xin cứu tử hoàn sinh cho người vợ thương yêu. &lt;br /&gt;Vị thần thương hại nhìn Ngọc Tâm hồi lâu rồi nói: &lt;br /&gt;&quot;Ngươi còn nặng lòng vương vấn trần ai, chưa thoát được vòng tục lụy... Ta có thể giúp cho ngươi đạt ước vọng song về sau ngươi đừng có lấy làm ân hận&quot;! &lt;br /&gt;Ngọc Tâm theo lời vị thần, dỡ nắp quan tài vợ ra, chính đầu ngón tay mình nhỏ ba giọt máu vào thi thể Nhan Diệp, thì người đàn bà từ từ mở mắt ra, rồi ngồi lên như sau một giấc ngủ dài. &lt;br /&gt;Trước khi từ giã, vị thần bảo người đàn bà vừa sống lại: &lt;br /&gt;&quot;Đừng quên bổn phận của người vợ... Hãy luôn luôn nghĩ đến lòng thương yêu chung thủy của chồng... Chúc cho hai vợ chồng được sung sướng.&quot; &lt;br /&gt;Trên đường về quê, người chồng hối hả giục thuyền đi mau. Một tối thuyền ghé bến, Ngọc Tâm lên bờ mua sắm thức ăn. Trong lúc đó, có một chiếc thuyền buôn lớn đậu sát bên cạnh, chủ nhân là tay lái buôn giàu có chú ý đến nhan sắc lộng lẫy của Nhan Diệp. Hắn gợi chuyện, mời Nhan Diệp qua thuyền mình dùng trà rồi ra lệnh cho bạn thuyền dong hết buồm chạy. &lt;br /&gt;Ngọc Tâm quay về thấy mất vợ, bỏ cả ăn ngủ, ngày đêm đi tìm kiếm, một tháng sau mới gặp. Nhưng người đàn bà đã quen với lối sống xa hoa bên cạnh tay lái buôn giàu có, quên cả tình cũ nghĩa xưa. Thấy rõ bộ mặt thật của vợ, Ngọc Tâm như tỉnh cơn mê, bảo Nhan Diệp: &lt;br /&gt;&quot;Mình được tự do bỏ tôi song tôi không muốn mình còn lưu giữ kỷ niệm gì của tôi nữa, vậy hãy trả lại ba giọt máu của tôi đã nhỏ ra để cứu mình sống lại&quot;. &lt;br /&gt;Nhan Diệp thấy được ra đi dứt khoát dễ dàng như thế, vội vàng lấy dao chích đầu ngón taỵ Nhưng máu vừa bắt đầu nhỏ giọt thì nàng ngã lăn ra chết. &lt;br /&gt;Người đàn bà nông nổi, phụ bạc chết vẫn còn luyến tiếc cõi đời nên hóa kiếp thành một vật nhỏ, ngày đêm theo đuổi theo Ngọc Tâm, tìm cách ăn cắp ba giọt máu để trở lại làm người. Con vật này luôn luôn kêu than với chồng cũ, như van lơn, như oán hận, như tiếc thương, ngày đêm o o không ngừng. Về sau giống này sinh sôi nẩy nở rất nhiều, người ta đặt tên nó là con muỗi. Vì ghét kẻ phụ bạc, nên mỗi lần muỗi lại gần, người ta không tiếc tay đập cho nó chết. &lt;/div&gt;</description>
      <pubDate>21.09.2008 00:04</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=40</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Con nhà làm bún</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=41</link>
      <description>&lt;p&gt;&lt;font color=&quot;#333399&quot; size=&quot;3&quot;&gt;Gái lùn! Gái lùn dậy. Dậy, sắp sáng rồi! Gọi, lay, đập tay, giật chân. Không khéo phải cấu véo, đấm đạp, dựng nó dậy nó mới dậy cũng nên. Phần đêm đang khép cánh. Mặt đất đã âm ấm khí dương. ừ thì con gái hai mươi tuổi là tuổi ăn tuổi ngủ, nhưng tuổi này cũng là tuổi làm lụng chứ. Không làm thì lấy gì mà ăn. Không bớt ăn bớt ngủ, dậy từ lúc này, khi thiên hạ còn ngủ cả; không lấy sự chịu thương chịu khó để bù lấp chỗ kém cỏi của số kiếp thì làm sao mà sống được đến bây giờ, làm sao năm giờ đã có hàng cho khách đến lấy kịp đón chầu ăn sáng của mọi người! &lt;br /&gt;- Gái lùn! Dậy, con! &lt;br /&gt;May, lần này bà Gái chỉ gọi giật hai câu ngắn, con bé đã vùng ngay dậy, ngáp dài một cái rồi gãi mớ tóc bù, vừa thò chân xuống quờ quờ tìm guốc. Tiếng guốc như một sinh vật rút từ bóng đêm ra sức sống mỗi lúc một to dần. Lát sau thấy tiếng nước trong chảo bột vỗ sóng óc ách. Rồi bốc lên mùi bột gạo ngâm chua khẳn và mùi than bén lửa khen khét, mùi của sự sống, trong bóng đêm đen nhờ. &lt;br /&gt;- Này, cẩn thận, lượt cho kỹ không bún giót như hôm qua. Mà xem lại cái khuôn đi, mẹ thấy không khéo nó thủng, con à. &lt;br /&gt;Tuy vậy bà Gái nói mà vẫn cảm thấy tiếng mình không thật. Nó vang đi đâu, trong căn nhà mái thấp đã mù mù hơi khói, hơi nước, chìm nghỉm bóng hai người đàn bà, một già là bà, một trẻ là con bà. Hóa ra ở đây, lúc này không cần ngôn ngữ. Lúc này, ngõ xóm khéo chỉ có hai mẹ con bà dậy bắt đầu công việc làm bún. Mọi người đang yên giấc. Không ngủ lúc này chỉ có ma, không ngủ lúc này họa chăng chỉ có kẻ trộm đang hành nghề. Thức giấc lúc này chỉ có hai mẹ con bà Gái. Hai mẹ con như hai cái bóng âm thầm, quờ quạng, cắm cúi vào công việc đầu tiên để chế tác ra sợi bún là gạn bột và nhóm lò. &lt;br /&gt;* * * &lt;br /&gt;Những sợi bún làm trong đêm đem lại lời lãi trông thấy. Một cân gạo làm được ba cân bún ngon. Nhưng khách chỉ được đổi có hai cân rưỡi. Làm bún tậu được ruộng, xây được nhà. Nhưng, đó là nói người có sức vóc và bỏ qua cái vất vả, cực nhọc của công việc này. &lt;br /&gt;Ôi, cái cực nhọc của công việc là trong bóng đêm, để biến hóa từ vật thể này sang vật thể kia nói sao cho thấu. Vì nó để lại di chứng ở ngay hình hài, vóc dáng, cung cách của hai mẹ con bà; người gì mà kiệm lời, mà cứ xo xo xúi xúi, cắm cắm cúi cúi, cấm có thấy gương mặt ngẩng lên trọn vẹn và hai bàn tay thì lúc nào cũng nhớt nhèo nhèo, trong khi các kẽ chân kẽ tay bị nước chua ăn mòn ngày qua ngày cứ lở loét bở bợt ra, trông thấy cả lớp thịt đỏ nhờ bên trong, như tay chân người hủi. &lt;br /&gt;Muốn có sợi bún đẹp, ngon, công việc phải tỉ mẩn ngay từ khâu chọn gạo, không phải là hạt gạo mới lắm nhựa mà là hạt gạo cũ bụng bạc kia. Gạo muốn thành bún tất nhiên trước hết phải sóc cho kỹ, rồi xay thành bột ướt và ngâm chua cho nó nở. Nóng thì một, hai ngày. Rét thì có khi phải ngâm tới bốn, năm ngày. Bột nở đủ độ là vớt, cho vào khăn, gói lại rồi lấy đá lèn. Lèn cho khô rồi đem bột nặn thành quả. Quả bột hình thành nhờ tay người trực tiếp, rồi cũng tay người trực tiếp cho nó vào quay, thả nó vào nồi luộc. Chà, đã tưởng luộc chín là xong, nào ngờ đôi tay vẫn chưa được nghỉ ngơi. Nhấc quả bột đã chín ở phần da bên ngoài ra còn phải cho vào cối giã, rồi sau đó cho vào bồn thấu cho nhuyễn. Thấu khó lắm, quá tay cho nước nhiều là nhão ngay. Ôi chao! Cái vất vả vẫn chưa buông tha. Vì bây giờ mới đến khâu lượt bột, tức cho bột vào cái lượt có hình cái túi làm bằng tơ lụa Hà Đông, bóp bằng tay thật kỹ cho bột mịn. Tuy nhiên dùng sức cơ bắp nhiều hơn là khâu vặn bún tiếp sau. Vặn thật mạnh để bột tuôn xuống nồi nước đang sôi, và trong mung lung hơi nước nhoè nhoẹt, bấy giờ khi bóng đêm đang tan, trong cái cảnh huống ba chìm bảy nổi, mới thấy được sợi bún lập lờ trong làn nước sôi cuộn. &lt;br /&gt;* * * &lt;br /&gt;Ôi, những sợi bún trắng muốt kết tinh từ trong bóng đêm lao động vừa dai vừa giòn, lại còn bóng bẩy ngon lành. Công phu, nhưng chỉ mới nhìn sợi bún đã muốn ăn. Vừa đặt vào môi đã thấy nó trôi vào cổ họng. Người ăn bún quen dạ chẳng cần nói cũng biết là đông, nhất là đàn bà. Người nghiện bún cũng không ít. Ngày xưa trong ngõ này thì có cụ Thượng họ Bùi, còn như bây giờ, hàng ngày vẫn có cả chục người đến chờ bún khuôn một, hay còn gọi là bún đầu nước ngay từ lúc tinh mơ. Bún đầu nước ít nhựa, dai giòn, ngon, một người ăn hết một cân bún rối là thường. Mà đấy chỉ là chấm nước mắm hay mắm tôm chanh ớt thôi đấy. Bún có nhiều loại. Sợi bún ở trong chậu lấy tay vóng lên, vuốt xuôi, rồi trở tay đặt xuống, sợi dài trông như con len tở, gọi là bún con bừa, con cúi. Bún nắm là vóng sợi bún lên tay, nắm cho nó kiệt nước, đặt xuống, to nhỏ theo ý mình, nhưng thích nhất là bún vẩy ốc, còn gọi là bún lá, bầy ở mẹt bún chả, mười lá trắng tinh đẹp như hoa nhài, nhìn đã thấy mê. Mê bún, nghiện bún ở ngõ xóm này xưa như đã nói là cụ Thượng họ Bùi. Bà Gái nhớ: Cụ Bùi Mỗ, người làng này, xưa học giỏi, tài cao, đức trọng, được thăng Thượng thư, vào nhậm chức ở Huế, nhớ bún quá, phải mời ông Quảng, anh giai bà vào chuyên làm bún cho cụ xơi. Sau ông Quảng già, trở lại cố hương, Bùi tiên sinh thưởng cho chức Trưởng bạ. &lt;br /&gt;Ngồi nghe mẹ kể chuyện mà cậu út Nhớn dửng dưng như không. Chỉ có Gái lùn là có vẻ lắng tai, nhưng lại nghếch mắt, lơ ngơ: &quot;Thượng thư là chức gì, hả mẹ?&quot; Bà Gái ngẩn mặt nghĩ : Thì thấy người ta nói vậy thì nói theo chứ nào có biết. Mà biết để làm gì? &lt;br /&gt;Biết chẳng để làm gì cả! Vì quanh năm suốt tháng, từ đời cụ kỵ ông bà cha mẹ chỉ một việc đơn thuần là làm ra sợi bún. Chỉ một nhịp sinh hoạt là ngày ngày trở dậy từ hai giờ sáng, hết gạn bột, lọc bột, giã bột lại đến thấu bột, lượt bột, vặn bún, khép kín một chu trình chế tác để đến sáu giờ giao hết hàng thì lăn ra ngủ. Ngủ đến hai giờ chiều là dậy chọn gạo, sóc gạo rồi mười giờ lên gường để hai giờ sáng lại bắt đầu vòng tuần hoàn mới là dồn sức làm. Làm, chỉ có làm, làm đến mức hai bàn tay nát nhừ như bùn vữa. Làm, cả năm cả tháng chỉ nghỉ độc một ngày mồng một Tết, là ngày miệng thiên hạ còn dành riêng ăn cỗ. Làm như một thói quen. Như mục đích là làm. Như không có nhu cầu gì. Không có sinh thú gì khác. Không quan tâm tới bất cứ một cái gì khác ngoài công việc vì đã chấp nhận sự an bài, không nề hà, không suy bì so sánh, không biết đến khổ ải, thiệt thòi. Cũng chẳng có yêu cầu gì cho riêng bản thân. Vì ngay đến cả cái tên gọi cũng không cần nữa là. Mẹ là bà Gái. Con trai là Nhớn. Con gái là Gái con, Gái chị, Gái em, hoặc Gái lùn, Gái cao tuỳ theo vóc dạc. Từ đời ông bà đã vậy. Nhà là xưởng sản xuất. Số kiếp đã định, lớn bé, nam nữ trong nhà thẩy đều là thợ chuyên nghề chế biến món thực phẩm dân gian phổ biến này. Có nhẽ phải đến đời này, chỉ đến đời này mới có chút ngoại lệ. Tức cậu út Nhớn con bà Gái, từ lúc còn ở tuổi thiếu niên mới không tham gia công việc cùng cha mẹ và các chị. Cậu út Nhớn được đi học. Cậu tách dần khỏi cái đời sống lầm than cực khổ của mẹ và chị cậu. Mẹ cậu, chị cậu, lấy ra từ bóng đêm nguồn sức mạnh tăm tối, còn cậu, chỉ tìm thấy ở đó lòng căm hờn và sự khinh miệt. Cậu bĩu môi, khinh bạc: &lt;br /&gt;- Sống như dưới địa ngục thế này mà cũng chấp nhận được! &lt;br /&gt;* * &lt;br /&gt;Cậu út Nhớn mười bảy tuổi dong dỏng cao, da trắng mịn, mặt xương, mũi dọc dừa, tóc dày rậm, rẽ ngôi giữa, thanh tao nhẹ nhõm như một mũi tên, trông vẻ ngoài đã thấy là cái tinh hoa vắt ra từ cuộc đời lam lũ của mẹ và chị. Nhưng trông sáng sủa vậy mà cậu học kém. Trượt vỏ chuối vào học cấp trung học, cậu ở nhà chơi nhởn đã hơn năm. &lt;br /&gt;Một hôm, tôi sang xưởng chế biến của bà Gái xin nước đãi bún, nước này có chất chua của bột lên men, rất rít, rửa bát sạch hơn nước chuyên dùng của Thái &lt;br /&gt;Lan, thì bà Gái níu lấy tôi: &lt;br /&gt;- Cô ơi, cô là hàng xóm, cô còn đi làm, cô quen thuộc nhiều, cô giúp thằng Nhớn nhà tôi kiếm công ăn việc làm mới. Tôi sợ nó bị lôi kéo... &lt;br /&gt;Nhưng tôi chưa kịp giúp cậu Nhớn nhà bà Gái được tý nào, đã thấy cậu vè vè cái xe Honda nữ hoàng đỏ chót đằng sau đèo một cô gái mặc váy cộc vào ngõ và mặt mày phớn phở khác thường. &lt;br /&gt;Cậu út Nhớn thực hiện một cú nhảy vọt. Cậu Nhớn đã có người yêu, đã có bồ bịch, nhân tình. Và còn hơn cả nhân tình nhân ngãi nữa. Vì từ hôm ấy cô gái nọ ăn ở với Nhớn ở nhà mẹ Nhớn, một căn buồng ở nách cái phân xưởng chế biến bún nọ như vợ chồng thật sự. Cô tên Mùa Đệm Kim, một cái tên kép giao duyên tân cổ, cô trạc ba mươi. Chỉ nhận ra cô ở độ tuổi ấy mỗi trưa cô trở dậy, tóc tai rũ rượi, đánh răng, xúc miệng òng ọc. Lúc ấy phấn son đã bong sạch, da mặt cô sàm sạm màu chì, lấm chấm nốt tàn nhang. Lúc ấy cô hiện thành một cô gái quê có đôi mắt trắng dã, ngực độc cái xu chiêng bọc hai đầu vú to dài thõng thẽo như hai quả đu đủ, dưới cái quần hoa lửng là đôi chân vòng kiềng khuệnh khoạng. Cô đứng vung tay vung chân làm vài động tác tập thể dục. Rồi ngáp. Rồi gãi nách, gãi sườn sồn sột. Rồi khịt mũi thấy mùi gạo ngâm, liền nhổ đánh phịch. Mùi đ. gì mà chua phát tởm thế, ông Nhớn? Cô Mùa dậy muộn lắm. Quãng hơn mười giờ cô mới cùng Nhớn vắt vẻo cái ví đầm đi ăn trưa. Họ ăn cơm trưa ở quán cơm bình dân về, xong lại đóng cửa buồng im ỉm. Đây mới là lúc họ làm khổ tai nhức óc những người hàng xóm. Họ cấu chí nhau. Họ đùa nghịch nhau. Họ la hét. Rồi thì thoảng lại vỏng vót lên tiếng ré chói tai của cô Mùa. Cô kêu: &quot;Cắn đ. gì mà đau thế, bố ai chịu được.&quot; Cô chửi: &quot;Tiên sư thằng nhãi, bà đã mệt phờ ra rồi mà mày còn hành bà à!&quot; &lt;br /&gt;Chí chóe cho đến năm giờ chiều thì Nhớn mở cửa dắt xe máy ra. Chàng đèo nàng đi làm. Bây giờ thì thật là nàng vì nàng đã thoát hẳn cái lốt thô phàm quê mùa vốn dĩ. Nàng mặc váy cộc màu tím, hoa đỏ. Nàng mặc áo vai bồng, riềm cổ chờm tới rìa cặp vú phồng. Mặt nàng biến dạng hoàn toàn. Son phấn phủ một lớp dầy, trên đó một bàn tay thẩm mỹ đã vẽ lên một cái mặt nạ đàn bà mắt to thô lố, miệng cười toe toét, thần thái nồng nã, như thấy đàn ông là vồ lấy ngấu nghiến. Nách cắp cái ví đầm, nghiêng nghiêng mái tóc dính hờ cái mũ nồi đỏ cờ, tay cặp điếu thuốc, ngồi vắt vẻo ở sau xe, nàng rõ là một tiểu thư đài các đang đến công &lt;br /&gt;sở. &quot;Thôi, đậu ở đây. Chờ em. Bai, bai.&quot; Nàng hôn vào bàn tay, rồi giơ lên xoa xoa ra hiệu tạm biệt chàng. Chàng quành xe, chạy một quãng rồi rẽ vào một quán nước. Đám người ngồi quán đang đánh bài, quay lại, nhay nháy mắt: &quot;Nhớn, vớ được cô em thơm thịt nhẩy!&quot;, &quot;con nhà làm bún chuyến này đổi đời thành công tử rồi. Cơm no bò cưỡi sướng chưa? Sao không mời chúng tao một chầu bia, mày?&quot; Công tử Nhớn không nói, nhấc bao thuốc 555, rút một điếu, châm lửa, trả tiền rồi đi ra. Nổ máy xe, Nhớn cho xe chạy về nhà. Cậu đi qua sân, thấy mẹ và chị đang sóc gạo, không nói một lời, dựng xe, vào buồng xách cái làn đựng dầy quần áo nữ, quàng vào tay lái xe, đánh xe đi. Lát sau nghe tiếng xe cậu quay trở về, tôi nhìn sang thấy cậu đang dở từng cái áo quần đã qua máy giặt phất lên cái dây phơi giăng qua sân. Cái dây phơi như có đàn bướm sặc sỡ vừa đậu xuống. áo sơ mi các kiểu, may ô, váy dài, váy ngắn đủ màu và những chiếc nịt vú, quần lót đàn bà rung rinh trong gió, lấp cả lối qua lại của hai mẹ con bà Gái lúc này đang sửa soạn đồ nghề cho buổi sản xuất tinh mơ sớm mai. &lt;br /&gt;Hai mẹ con bà Gái đi ngủ từ lúc chập tối. Ti vi không có. Rađiô cũng không. Nhưng có họ cũng chẳng xem, chẳng nghe. Họ nhờ vào bóng đêm để tái tạo nguồn lực, để trở dậy lúc hai giờ sáng làm mẻ bún mới. Tuy vậy giấc ngủ của họ, kể từ ngày Nhớn kiếm đâu được chiếc xe và đèo cô Mùa về ăn ở, lại bị quấy rày. Mười một giờ rưỡi, chiếc Honđa nữ hoàng đỏ nổ máy ầm ầm. Đón được cô tình nhân về rồi, căn nhà còn ầm ĩ thêm một lúc nữa, cho đến tận lúc cô Mùa gắt: &quot;Sao hôm nay gặp toàn bọn đểu thế không biết! Thôi đi! Đang nẫu cả ruột đây, đang mệt bỏ cha đây!&quot; &lt;br /&gt;Ngày nào cũng như ngày nào, lịch trình sinh hoạt của cậu út Nhớn cứ đều đều diễn đi diễn lại như thế! Thật chẳng còn hiểu quan hệ của họ thuộc là kiểu cách gì. Vợ chồng thì không phải! Vì chẳng nhẽ Nhớn khinh bỉ mẹ cậu là con mẹ làm bún đần ngu không biết gì nên không thèm hỏi qua một câu. Không gì thì cũng phải ăn hỏi cưới xin đàng hoàng chứ. Mà xem cái cung cách con đàn bà đi đêm về hôm ở nhà người ta đến cả tuần mà không biết chào hỏi ai lấy một câu, lại có ý hợm của lên giọng hiếu sự mỉa mai, ăn nói chỏng lỏn, cợt nhả, thô lỗ thì đó hẳn không phải là con người tử tế đứng đắn rồi! &lt;br /&gt;Bà Gái, Gái lùn ngậm miệng làm thinh. Đã quen với một thế giới không ngôn ngữ. Đã nhận ra chẳng có thể thay đổi được tình hình. Hơi sức của họ chỉ còn đủ để hoàn thành chức trách của con người lao động là làm ra sản phẩm để nuôi thân thôi. Mặc dầu tôi biết là họ giận lắm và nếu giận cô Mùa một thì họ giận cậu Nhớn hai. Cậu Nhớn bám vào cô Mùa để vinh thân, để ra khỏi kiếp phận. Cậu rủng rỉnh đồng tiền tiêu pha. Cậu mặc áo sơ mi hãng Pie-Cácđanh, đi giầy Italia, đeo đồng hồ Seiko, hút thuốc ba số. Cậu chẳng đoái hoài gì đến mẹ và chị. Cậu quát: &quot;Vứt mẹ nó cái nghề chết tiệt của các bà đi. Tởm đ. chịu được!&quot; &lt;br /&gt;Cái phải đến cuối cùng cũng đến. Một trưa, đang đọc sách, bỗng nghe thấy tiếng la lối om sòm bên nhà bà Gái, động lòng tôi vội chạy sang. &lt;br /&gt;Bà Gái đang ngồi sàng gạo ở cửa căn buồng. Mặt gầm xuống cái sàng, bà không dám ngẩng lên vì tiểu thư Mùa mặc bộ đồ cộc, hở nách mỏng tang ở cạnh cái dây phơi la liệt váy áo, đang nhẩy chồm chồm, chao chát: &lt;br /&gt;- Cha tiên nhân đứa nào ăn không ăn hỏng lấy của tao cái đồng hồ Lông-din giá hơn mười vé nhá! Bà báo cho mà biết, duyên ai phận nấy chớ ghen mà nồng. ừ, bà là gái cave đấy! Bà thuê thằng Nhớn nó làm vệ sĩ cho bà, bà nuôi nó, bà cho nó tiền, để nó bồi dưỡng sức khoẻ để nó ôm ấp bà đấy. Này, đừng có nói bà đã chán chê mê mải vì khách chơi nó vầy vò, nay lại quyến rũ thằng Nhớn vì bà là con nặc nô dâm đãng chưa đã cơn thèm nhé! Cave là nghề của bà. Còn thằng Nhớn nó là tình nhân của bà. Hai việc khác nhau nhé! &lt;br /&gt;Bất nhẫn quá, có lẽ là vậy, dẫu là Mùa chửi nhau một mình, từ trong buồng, Nhớn vội nhao ra để can ngăn. Nhưng vệ sĩ vừa ra khỏi cửa, còn đang mắt nhắm mắt mở đã bị cô cave cản lại và thực hiện ngay một cú đánh nhà nghề, tay đẩy chân ngáng khiến cậu quay lơ ra đất. &lt;br /&gt;- Cả ông nữa. Ông còn liếc ngang liếc dọc con mắt xanh mỏ đỏ nào nữa thì tôi cho mẹ nó một nhát cho xong đời đấy, hiểu chưa? Chó nào, chủ ấy chứ! Đ. mẹ không có tao nằm ngửa ra thì lấy c. mà đổ vào nồi à! Nói cho mà biết, không có tiền của bà thì mày lấy đâu đồng hồ mà đeo, áo quần sang trọng mà mặc, xe máy mà đi. Mày mở mày mở mặt nhờ con cave này đấy, hiểu chưa? Chứ cái thứ con nhà làm bún như mày, chỉ đáng giặt xi líp cho bà thôi, con sãi ở chùa thì quét lá đa thôi, chứ tưởng của báu đấy, hả! &lt;br /&gt;Thấy mình hèn quá, Nhớn vận nội công bật dậy, định xông tới vả vào mồm cô cave nọ mấy cái, nhưng chưa kịp đã sững người há hốc mồm. Tiểu thư cave mặt hầm hầm quay lại đưa tay giật giật liên hồi quần áo phơi, rồi vào buồng xách làn nhựa ra, nhét đầy vào đó, đoạn đi tới cái xe Honđa đỏ chót ngồi lên, không cần thay quần áo, dận máy nổ ầm ầm. &lt;br /&gt;- Kim Mùa! Kim Mùa! Cho anh xin lỗi! Anh xin lỗi em mà! &lt;br /&gt;Không nơi nương tựa, Nhớn lại trở thành kẻ thất nghiệp ăn bám mẹ và chị. Nhưng một tháng sau, nhờ mẽ người cao ráo, xinh nhã cậu lại được làm vệ sĩ cho một ả cave khác. Cậu lại có xe máy đi, quần áo đẹp mặc và tiền tiêu rủng rỉnh. Nhưng lần vẫy vùng này để cố ra khỏi bóng tối của khuynh hướng thoái triển trong số kiếp cũng lại không ăn thua. Vẫn lại là kịch bản cũ và có thêm hồi kết thúc bi đát hơn. Trong một trận tranh giành quyền lực, Nhớn bị đối thủ tẩn cho trận bò kê bò càng. Phục thuốc ba tháng sau Nhớn mới lại sức. Bà Gái nói: &quot; Thôi, con ở nhà làm bún với mẹ và chị đi. Vất vả, nhưng đồng tiền kiếm được nó chắc chắn vì nó lương thiện, con à.&quot; Thấy ông con im, bà liền hấp háy con mắt, phấn khởi: &quot;Mẹ già, chị con cũng yếu rồi, giờ làm buổi đực buổi cái thôi, cần có con giúp đỡ trông nom cơ nghiệp này. Nếu con bằng lòng, mẹ sẽ đưa con ít tiền để con lo việc mua máy móc, vì mẹ nghe nói giờ người ta không làm bằng tay nữa, người ta đã chế tạo ra máy xay, máy nhào, máy vắt bún rồi.&quot; Mẹ vừa dứt lời, Nhớn liền nhổm dậy: &quot; Mẹ có được bao nhiêu tờ?&quot; &lt;br /&gt;Giờ thì Nhớn giữ chân gác khách sạn Rose ba sao tư nhân ở phố Q. Đó là những nỗ lực cuối cùng để giành lấy cái cậu không có, để đổi thay địa vị của cậu, nhưng buồn thay cậu khoe với tôi: phải mất năm vé đút lót mới được nhận vào việc ấy. Thấy tôi nhún vai, cậu liền mím môi cười lặng: Chị y hệt mẹ em. Nhưng chị ơi, chỉ cần một năm tiền boa là em lấy lại đủ vốn thôi. &lt;br /&gt;Rồi cậu con trai nhà làm bún ngả người, giang hai tay vênh vang một cách hồn nhiên và tôi đòi: &lt;br /&gt;Cứ sấp mặt xuống làm nên u tối có biết gì đâu. Cậu nói - Bây giờ mở mắt ra mới biết: Thiên hạ họ ăn chơi thật là khủng khiếp! Một bữa tiệc chi vài ba triệu là bình thường. Còn một tay giám đốc từ nơi khác đến, thuê khách sạn, cắp theo một con bồ như cỡ Kim Mùa bao cả tháng là thường xuyên. Thật hầu hạ bọn này cũng còn hơn ông bác em theo Cụ Thượng nào đó vào Huế làm bún cho cụ ăn, còn hơn đầu tắt mặt tối như mẹ em, chị em, chị ạ./&lt;/font&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;font color=&quot;#333399&quot;&gt;Ma Văn Kháng(1999)&lt;/font&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;</description>
      <pubDate>21.09.2008 04:14</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=41</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Bóng nắng, bóng râm</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=42</link>
      <description>&lt;p&gt;&lt;font color=&quot;#000099&quot; size=&quot;3&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Con đê dài hun hút như cuộc đời. Ngày về thăm ngoại, trời chợt nắng, chợt râm. Mẹ bảo: &lt;br /&gt;- Nhà ngoại ở cuối con đê. &lt;br /&gt;Trên đê chỉ có mẹ, có con. &lt;br /&gt;Lúc nắng, mẹ kéo tay con: &lt;br /&gt;- Đi nhanh lên, kẻo nắng vỡ đầu ra. &lt;br /&gt;Con cố. &lt;br /&gt;Lúc râm, con đi chậm, mẹ mắng: &lt;br /&gt;- Đang lúc mát trời, nhanh lên, kẻo nắng bây giờ. &lt;br /&gt;Con ngỡ ngàng: sao nắng, râm đều phải vội? &lt;br /&gt;Trời vẫn nắng, vẫn râm... &lt;br /&gt;… Mộ mẹ cỏ xanh, con mới hiểu: đời, lúc này cũng phải nhanh lên.&lt;/font&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;font color=&quot;#000099&quot; size=&quot;1&quot;&gt;&lt;em&gt;NGUYỄN THÊN Ý&lt;/em&gt;&lt;/font&gt; &lt;br /&gt;&lt;/p&gt;</description>
      <pubDate>28.09.2008 02:21</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=42</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Vô tình</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=46</link>
      <description>&lt;p&gt;&lt;font color=&quot;#333366&quot; size=&quot;3&quot;&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;font size=&quot;3&quot;&gt;Trời cuối đông lạnh giá. Tôi ghé bưu điện viết thư về thăm nhà. Chú ơi, mua vé số... . Tôi ngước nhìn: một gái, một trai - hai nhếch nhác. Tôi lắc đầu, lại cắm cúi viết... Hồi lâu, ngẩng đầu lên, tôi thấy thằng bé đang chăm chú nhìn thư. Tôi giận dữ: Oắt con, dám đọc trộm thư hả?.. Bé gái chạy lại: Chú ơi, đừng đánh em cháu, nó không biết chữ,.. . &lt;br /&gt;Tôi bần thần nhìn theo. Ngoài phố, trời vẫn còn lạnh lắm. Mưa bụi phủ đầy vai hai đứa trẻ... &lt;br /&gt;&lt;/font&gt;&lt;font size=&quot;2&quot;&gt;&lt;font color=&quot;#000000&quot;&gt;&lt;font color=&quot;#333366&quot;&gt;TIỂU MINH VƯƠNG&lt;/font&gt; &lt;/font&gt;&lt;/font&gt;&lt;/font&gt;&lt;/p&gt;</description>
      <pubDate>28.09.2008 04:03</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=46</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Mắm ruốc</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=47</link>
      <description>&lt;p&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;font color=&quot;#000099&quot; size=&quot;3&quot;&gt;Hồi ở quê, mùa mưa bão nước ngập trắng đồng. Dù đường sá đi lại khó khăn nhưng mẹ vẫn ngày hai buổi chạy chợ để anh em tôi có được cái ăn. Chiều sẫm, bên nồi cơm bốc khói, mắm ruốc thơm lừng, cả nhà quây quần, không khí vô cùng ấm áp dù bên ngoài tiết trời đang đông. &lt;br /&gt;Giờ. Có nhà thành phố. Vợ con đề huề. Mắm ruốc được vợ đánh hột vịt kho chung thịt mà chẳng thấy ngon. Phải chăng thiếu mùa đông lạnh giá? Thiếu cái chặc cưỡi của cu Phong? Hay vắng bóng mẹ tất tả dưới mưa, băng lũ vượt đồng của mẹ. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;font color=&quot;#000000&quot;&gt;&lt;font color=&quot;#000099&quot; size=&quot;2&quot;&gt;NGUYÊN VŨ&lt;/font&gt; &lt;/font&gt;&lt;/font&gt;&lt;/p&gt;</description>
      <pubDate>28.09.2008 04:10</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=47</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Nước thoái</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=48</link>
      <description>&lt;p&gt;&lt;br /&gt;&lt;font color=&quot;#000099&quot; size=&quot;3&quot;&gt;&lt;font size=&quot;3&quot;&gt;Nàng là kỳ thủ, chuộng lối đánh thần tốc. Cuộc cờ cũng như cuộc đời chẳng biết nhượng bộ một ai. Phong cách thi đấu lấy công làm thủ, cộng với tài nghệ phi thường khiến nàng vang danh đấu trường quốc tế. Nhưng rồi nàng cũng thất bại trước ván-cờ-cuộc-đời: chàng đã ra đi vì không chịu nổi một người luôn áp đảo. Trống trải. Đau buồn. Tuyệt vọng. Giờ, nàng chỉ biết ân hận, trách mình sao chẳng biết thoái lui. Nhưng, than ôi! Với quân ngã thì dù cao cờ đến đâu người ta cũng khó mà đi được một nước thoái!!! &lt;/font&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;font color=&quot;#000099&quot; size=&quot;2&quot;&gt;NGUYÊN VŨ &lt;/font&gt;&lt;/font&gt;&lt;/p&gt;</description>
      <pubDate>28.09.2008 04:38</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=48</guid>
    </item>
        <item>
      <title>truyen ngan ve thay co</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=49</link>
      <description></description>
      <pubDate>05.11.2008 23:56</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=49</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Bài học ngoài giáo án</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=50</link>
      <description></description>
      <pubDate>05.12.2008 23:52</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=50</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Lưu Bình - Dương Lễ thời nay</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=52</link>
      <description>&lt;p&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lễ Và Bình đôi bạn chí cốt, thuở hàn vi cùng mài đũng quần trên giảng đường. Lễ đắc chí làm quan to, Bình vẫn lận đận kiếp thứ dân. Một hôm Bình đến nhà thăm Lễ, người bảo vệ khinh khỉnh nhìn chiếc Su 100 năm của Bình rồi hất hàm: &lt;br /&gt;- Ông gặp ai? &lt;br /&gt;- Tôi là Bình, bạn học cũ, đến thăm ông Lễ. &lt;br /&gt;Người bảo vệ biến vào trong rồi trở ra: &lt;br /&gt;- Chắc ông lầm? Ông giám đốc nói không nhớ có quen ai tên Bình cả! &lt;br /&gt;Bình trở ra, tai ù ù nghe văng vẳng tiếng cười nhạo của nàng Châu Long: “... xưa rồi Diễm ơi!”. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;font size=&quot;2&quot;&gt;LÊ KHẮC VIỆT &lt;/font&gt;&lt;/p&gt;</description>
      <pubDate>21.12.2008 03:16</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=52</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Mưa đầu mùa </title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=54</link>
      <description>&lt;br /&gt;Những cơn mưa đầu mùa thường ập đến bất ngờ, nước tuôn xới xả. Hàng hiên nhà tôi đầy người đến trú mưa, ồn ào như chợ vỡ, nhất là cánh bán hàng rong. Tôi thật bực mình vì công việc của tôi cần sự yên tĩnh. Mẹ thì khác, những lúc ấy bà vui như cá gặp nước , những kỷ niệm vui buồn ngày xưa với gánh hàng của bà như không bao giờ dứt. Có lúc bà còn hào phóng mua hết những thức ăn ế ẩm của họ, dù sau đó không sao dùng hết phải bỏ đi. Tôi tỏ ý khó chịu, mẹ chỉ cười buồn bảo: Những thứ ấy đã một thời nuôi con khôn lớn đó... - Tôi nhớ lại những cơn mưa đầu mùa ngày trước, mẹ gánh hàng về ôm tôi khóc, chợt thấy chạnh lòng... &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;font size=&quot;2&quot;&gt;NGUYỄN THANH XUÂN&lt;/font&gt; &lt;br /&gt;</description>
      <pubDate>21.12.2008 03:25</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=54</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Ngày sinh nhật đầu tiên</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=55</link>
      <description>&lt;p&gt;Tối nay, bé buồn xo. Mẹ gặng mãi, bé nũng nịu: “Hôm qua sinh nhật cái Na, nó được tặng nhiều đồ chơi đẹp! Sao con không có sinh nhật, mẹ nhỉ?” Mẹ lặng thinh, mắt đỏ hoe! Sợ mẹ khóc, bé vỗ về: Đừng khóc mẹ nhỉ? Bé không đòi sinh nhật nữa đâu! Bỗng nhiên, mẹ ôm chầm lấy bé nấc nở. Bé ngơ ngác rồi òa theo. &lt;br /&gt;Ngày ấy, cái ngày mà tòa án buộc người đàn ông phải đợi cho bé đủ 12 tháng tuổi mới ký quyết định ly hôn. Và sinh nhật đầu tiên của bé đúng vào ngày mẹ bồng bé chết lặng giữa chốn pháp đình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;font size=&quot;2&quot;&gt;XUÂN VY &lt;/font&gt;&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;</description>
      <pubDate>21.12.2008 03:29</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=55</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Lòng mẹ</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=56</link>
      <description>&lt;br /&gt;Nhà có ba chị em, toàn con gái. Mọi người bảo: con gái là con người ta. Mẹ lại cười: Mai mốt mẹ gả khắp Bắc Trung Nam luôn . Hôm đi học xa về thăm nhà, chị Hai nói với mẹ: chị có bạn trai rồi, anh ấy ở tận Phú Yên. Mẹ phản ứng: Mẹ không tán thành đâu, về cái nơi hay bão lụt ấy làm sao về thăm mẹ được . &lt;br /&gt;Đêm đến, mẹ thủ thỉ bên tôi: Mẹ muốn các con luôn ở trong vòng tay mẹ dù sau này có chồng con, mẹ vẫn mong luôn bên cạnh tụi con . Tôi thấy có cái gì nghèn nghẹn ở cổ. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;font size=&quot;2&quot;&gt;TRẦN THỊ XUÂN VŨ&lt;/font&gt; </description>
      <pubDate>21.12.2008 03:31</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=56</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Giỗ ông</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=57</link>
      <description>&lt;p&gt;Sớm mồ côi. Từ nhỏ anh em nó sống cùng nội trên rẻo đất còm của người chú. Năm ngoái, sau trận bão lớn ông nó qui tiên. Chú lấy lại căn chòi, khuyên : 14, lớn rồi - nên tự lập. Anh em dắt díu nhau tha hương. &lt;br /&gt;Trưa. Phụ hồ về nhà - (ở dưới gầm cầu). Mệt. Đói. Giở nồi cơm: nhão như cháo. Thằng anh mắng: đồ hư. &lt;br /&gt;Con em mếu máo: em nấu để...giỗ ông. &lt;br /&gt;Ngẩn người. Chợt nhớ: hôm nay tròn năm ngày ông mất. Hồi ở quê, thường ngày ông thích cơm nhão. Thế mà...! &lt;br /&gt;Ôm em vào lòng nó gọi trong nước mắt: Ông ơi!!! &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;font size=&quot;2&quot;&gt;LÊ NGUYÊN VŨ&lt;/font&gt; &lt;/p&gt;</description>
      <pubDate>21.12.2008 03:37</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=57</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Mẹ</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=58</link>
      <description>&lt;p&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thuở lên bảy, nhà nghèo, con đông, mẹ phải chật vật lo bữa trước, bữa sau, con thiếu sự âu yếm của mẹ. Một buổi xế chiều ngủ dậy muộn, nóng hâm hấp, mẹ lo cuống cuồng chạy mua thuốc, ôm con vào lòng dỗ dành, van vái cho con. Thấy vậy, càng thích ngủ xế chiều để được bệnh. Khi 20, học xa, mẹ mất. Nhìn ráng chiều là tim nhoi nhói đau, hối hận làm khổ mẹ. Con hư quá mẹ ơi! . &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;font size=&quot;2&quot;&gt;VÕ THỊ THƠM&lt;/font&gt; &lt;/p&gt;</description>
      <pubDate>22.12.2008 03:12</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=58</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Mất ngủ</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=59</link>
      <description>&lt;p&gt;&lt;br /&gt;Nhà chật, chỉ có một cái giường duy nhất, con tôi lại có thói quen chòi, đạp lung tung khi ngủ nên vợ chồng tôi ít khi nào được yên giấc. Nửa đêm, thường phải dậy ẵm con nằm cho ngay ngắn lại. Nhưng sau đó tôi chẳng thể nào ngủ lại được nữa. Vì mất giấc. Tôi thường ước ao một cái giường rộng hơn để dễ ngủ. &lt;br /&gt;Một ngày, cơ quan cử tôi đi công tác xa. Ở lại một mình trong nhà nghỉ với chiếc giường to, nệm êm, ra sạch. Tôi cũng không ngủ được, vì nhớ những cái đạp, chòi của con. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;font size=&quot;2&quot;&gt;NGUYỄN THỊ MAI THU&lt;/font&gt; &lt;/p&gt;</description>
      <pubDate>22.12.2008 03:13</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=59</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Đổi thay</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=60</link>
      <description>&lt;p&gt;Hồi nhỏ ba mẹ ở quê, chị đi làm cho em học. Sinh nhật chị, em nối chỉ vỏ xe dành dụm tiền tặng chị cái nón. Chị rất vui, cảm động ôm hôn em. &lt;br /&gt;Thời kinh tế thị trường, em giàu lên. Mua gì cho chị cũng chê. Sinh nhật chị, nhớ ngày xưa em lại tặng nón. &lt;br /&gt;- Xì… giàu thấy mồ mà tặng nón! &lt;br /&gt;Chị kể lể công lao, giận dỗi... Em tiếc ngày xưa, giấu mặt vào tường lặng lẽ khóc. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;font size=&quot;2&quot;&gt;NGỌC THU &lt;/font&gt;&lt;/p&gt;</description>
      <pubDate>22.12.2008 03:15</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=60</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Bên mình</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=61</link>
      <description>&lt;p&gt;Bà không ngủ nổi. Chúng nó mới phone về xong Đã tới Úc bình an, nhưng chà bông họ quẳng rồi . Nhói cả tim già! Bà không tiếc của, chỉ tiếc công. Tám mươi tuổi rồi, lọm khọm ngồi xé được cả ký như thế, vậy mà... Thương hai đứa cháu nhỏ, cha nhận được quà. Giọng con dâu còn nhấm nhẳn: Con bảo rồi! Đồ ăn bên mình mất vệ sinh lắm! Ai họ nhận! . Mà bà nuôi sáu đứa thành tài cũng bên mình chứ đâu! &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;font size=&quot;2&quot;&gt;&lt;br /&gt;Trung Thu&lt;/font&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;</description>
      <pubDate>22.12.2008 03:16</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=61</guid>
    </item>
        <item>
      <title>Vô Tư</title>
      <link>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=62</link>
      <description>&lt;p align=&quot;left&quot;&gt;&lt;br /&gt;Thằng nhỏ 5 tuổi gần như chiều nào cũng phải nghe vở cải lương được người hàng xóm phát đi phát lại. Hôm nay trời mưa, nó cứ bi bô lặp lại lời bài hát trong vở cải lương: “Chồng gần không lấy đi lấy chồng xa...”. Người mẹ trẻ nghe con hát, quay mặt đi, rớm nước mắt. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;font size=&quot;2&quot;&gt;Anh Thư&lt;/font&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;</description>
      <pubDate>22.12.2008 03:17</pubDate>
      <guid>http://www.ucchau.net/modules/truyen/entry.php?entryID=62</guid>
    </item>
      </channel>
</rss>
