× Úc Châu

Những thay đổi về di trú

More
11 năm 3 tháng trước #21 bởi RadioHead
06/09/2006

Mới đây Bộ Di Trú có công bố một số thay đổi về vấn đề di trú như sau:
- Visa vợ chồng - hôn thê - hôn phu:
Kể từ ngày 1 tháng 4 năm 2006, tức khoảng một năm nữa, những người nộp đơn về visa vợ chồng sẽ có những thay đổi như sau:

Từ trước đến nay những người nạp đơn để xin đi vì đã kết hôn, tức visa vợ chồng, thời gian chờ đợi là hai năm tính từ ngày nạp đơn tại Việt Nam. Nhưng kể từ ngày 1 tháng 4 năm 2006, thời gian hai năm không tính từ ngày nạp đơn mà tính từ ngày người vợ hoặc chồng được visa tạm. Như vậy, thời gian chờ đợi cho các cặp vợ chồng sẽ lâu hơn. Ví dụ, người vợ nạp đơn tại Sài gòn ngày 1 tháng 5 năm 2005. Theo luật hiện thời, hai năm sau, tức 1 tháng 5 năm 2007, người vợ sẽ được cấp thường trú. Tuy nhiên, kể từ ngày 1 tháng 4 năm 2006 những người nạp đơn theo vợ chồng, ví dụ nạp ngày 1 tháng 4 năm 2006, thì không có nghĩa rằng hai năm sau đến ngày 1 tháng 4 năm 2008, được cấp visa vợ chồng. Theo luật mới, sau khi nạp đơn ngày 1 tháng 4 năm 2006, có thể 6 tháng sau, tức 1 tháng 10 năm 2006, người vợ mới được cấp visa tạm để đi Úc. Thời gian hai năm tính từ ngày 1 tháng 10 năm 2006, không phải tính từ ngày 1 tháng 4 năm 2006.

Hai vợ chồng phải chung sống với nhau ít nhất là một năm sau ngày visa tạm được ban cấp, người vợ mới được cấp thường trú. Đôi khi có những cặp vợ chồng vì lý do đặc biệt tạm sống xa nhau, Bộ Di Trú có thể chấp nhận. Tuy nhiên, kể từ ngày 1 tháng 4 năm 2006, sau khi được visa tạm trú, hai vợ chồng phải chung sống, gọi là cohabitation, ít nhất là một năm Bộ mới cho thường trú.

Về vấn đề bạo hành trong gia đình. Theo luật hiện thời, người vợ hoặc chồng bị bạo hành, có thể xin những tường trình của những nhân viên xã hội hoặc bác sĩ tâm lý v.v... để minh chứng về việc mình bị bạo hành. Tuy nhiên, Bộ Di Trú cho rằng đã có những lạm dụng và người vợ giả vờ cho là mình là bị bạo hành. Vì thế, kể từ tháng 7 năm 2005, Bộ sẽ yêu cầu người xin thường trú vì lý do bị bạo hành cần phải đến một người hoặc một bộ phận giúp đỡ về vấn đề bạo hành này, gọi là independent service provider.

Về vấn đề thân nhân duy nhất còn lại, gọi là remaining relative. Trước đây Bộ Di Trú vẫn nhân nhượng cho quý vị có thể có những thân nhân ở ngoại quốc, không phải ở Úc tất cả với điều kiện không có sự tiếp xúc với những người thân nhân ở ngoại quốc trong vòng ba năm. Ví dụ, chị Nguyễn Thị A có bốn anh em sống ở Úc và một người anh ở bên Pháp. Nếu chị không có tiếp xúc gì với người anh ở bên Pháp trong ba năm, Bộ có thể nhân nhượng cho chị đi với diện thân nhân còn lại sau cùng mặc dầu chị có bốn người anh em ở bên Úc, còn một người ở Pháp. Theo luật mới kể từ ngày áp dụng 1 tháng 11 năm 2005, chị Nguyễn Thị A phải là người duy nhất còn lại ở ngoại quốc và người anh ở bên Pháp không được chấp nhận nữa. Nói tóm lại, tất cả các thân nhân của chị Nguyễn Thị A phải là dân thường trú, hoặc quốc tịch tại Úc và Bộ Di Trú không chấp nhận cho một thân nhân nào của chị ở ngoại quốc (thân nhân gần).

Sở dĩ Bộ Di Trú có những hạn chế nói trên về vấn đề bảo lãnh thân nhân vì chính phủ của Thủ Tướng Howard có khuynh hướng hạn chế di dân vì đoàn tụ gia đình. Ngược lại, họ tăng cường số di dân vì tay nghề rất nhiều. Ngoài con số thường lệ hàng năm, năm nay Bộ Di Trú tăng thêm 20 ngàn visa cho những người có tay nghề. Nói về con số so sánh thì di dân tay nghề chiếm tới 70%. Số còn lại là những visa về nhân đạo, ví dụ tỵ nạn và đoàn tụ gia đình.



LS Trần Hữu Trung trình bày trên SBS radio
RadioHead tường thuật

Vui lòng Đăng nhập hoặc Tạo tài khoản để tham gia cuộc hội thoại.

Thời gian tải trang: 0.088 giây