× Úc Châu

hỏi về nghề nghiệp

More
9 năm 1 tháng trước #471 bởi so_luu_huong
em dự định sẽ sang úc định cư.cho em hỏi ở úc làm nghề gì kiếm được nhiều tiền nhất?có phải là ns hoặc bs ko?em nghe nói làm nha sỹ(ns)hoặc bác sĩ(bs)nếu mở phòng mạch thì 1 năm có thể kiếm được khoảng 500.000aud phải ko?nhưng em là người việt thì làm bs hoặc ns thì có đắt khách ko?

Vui lòng Đăng nhập hoặc Tạo tài khoản để tham gia cuộc hội thoại.

More
9 năm 1 tháng trước #473 bởi LaoNgoanDong
Các bài sau đây trích từ báo tvts,

Lương bổng các nghề ở Úc


Có ba thứ quyến rũ con người: quyền lực, danh tiếng và tiền bạc. Nhưng làm sao đạt tới?

Ở những nước nghèo và độc tài, chỉ cần có quyền là một lúc có thể có được cả ba thứ. Anh có quyền (như tổng bí thư hay thủ tướng, bộ trưởng các nước cộng sản và độc tài) thì tất nhiên anh có hai thứ kia. Ở các nước dân chủ, chưa chắc. Nhưng anh có tiền thì hy vọng có tiếng và có quyền.

Vì thế, ở các nước chậm tiến và độc tài, một người gốc khố rách áo ôm, răng đen mã tấu muốn giàu hay có tiếng thời phải đi làm cách mạng, làm chính trị, nắm quyền, tham nhũng và sau đó trở nên giàu. Trong khi đó, ở các nước tiên tiến và dân chủ, một người giàu có lại sẽ có cơ hội làm chính trị và nắm quyền lực, như Tổng thống Mỹ George W. Bush, Thủ tướng Thái Lan Thaksin, Thủ tướng Ý Berlusconi. Làm chính trị để làm giàu và giàu rồi mới làm chính trị. Loại người sau đỡ tham nhũng hơn, bởi vì họ đã có tiền rồi.

Tuy vậy, trong cuộc sống cũng có những người chỉ thích có quyền mà thôi, hoặc chỉ thích danh hay thuần túy chỉ thích tiền. Ở Úc, báo chí thường nói đến những người giàu và nổi tiếng (rich and famous). Tuy nhiên, khi được hỏi phải chọn giữa giàu và nổi tiếng, nhiều người nói họ thích giàu hơn nổi tiếng, bởi tiếng tăm không trả được những cái bill (hóa đơn đòi tiền) hàng tháng.

Thụy Văn tôi vào đề dông dài để tiếp nối bài viết về những người giàu ở Úc và văn hóa làm giàu trong số báo trước.

Các cụ thường cho rằng “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, tuy nhiên cũng có những người giỏi trong một nghề nào đó màkhông giàu có sung túc, bởi có thể đã không chọn đúng nghề hái ra tiền.

Để bạn đọc TVTS có chút thông tin về lương lậu của các nghề nghiệp của chính bản thân, thân nhân, bạn bè, người hàng xóm hay thiên hạ, Thụy Văn tôi xin ghi ra lương trung bình của 30 nghề nghiệp trong số 340 việc làm/nghề nghiệp mà tác giả Rodney Stinson trình bày trong tập tường trình “What Jobs Pay 2006-07”.

Căn cứ vào các số liệu của Sở Thống Kê Úc, tác giả Stinson cho biết một số nghề nghiệp đã có mức lương trung bình tăng đáng kể trong thời gian 5 năm qua, đứng đầu là những công nhân điều khiển máy móc (plant operators) trong các nhà máy lọc dầu, khí đốt và hóa học. Lương trung bình hàng tuần của họ đã từ $1,135 trong năm 2001 tăng lên $1,974 trong năm 2005, vượt qua lương của nha sĩ, bác sĩ chuyên khoa, luật sư và bác sĩ toàn khoa.

Một tin vui khác cho các nhân viên viên làm việc trong các ngân hàng là lương trung bình hàng tuần của họ cũng đã tăng từ $738 đến $1,043. Các thợ làm đường, lót gạch cũng có lương tăng từ $591 đến $838.

Bên cạnh sự tăng lương, các công nhân trong một số ngành khác sẽ thấy lương bổng của họ bị giảm, như công nhân trong các hãng chế tạo (manufacturing workers) , giảm từ $764 xuống $580; các thợ điều khiển cần trục (crane operators) từ $864 xuống $845.


Nhìn vào thống kê của tập Tường Trình Lương Bổng năm 2006-07, bạn đọc sẽ thấy rằng cái nghề có lương cao nhất là nghề của thợ, như thợ điều khiển máy móc ở các nhà máy lọc dầu hỏa với lương trung bình trên $100,000.


Bạn sẽ thấy lương của các nha sĩ, luật sư, bác sĩ chuyên khoa, bác sĩ toàn khoa thấp hơn. Dĩ nhiên, lương của các bác sĩ và luật sư, các chuyên gia trong tập tường trình này là lương của những người đi làm công cho bệnh viện hay công ty và được trả lương hàng tuần như các công nhân viên khác. Theo tác giả Stinson, lương của các chuyên gia hành nghề tự do (mở phòng mạch, văn phòng riêng) sẽ cao hơn nhiều so với các chuyên gia làm công (salaried employees) khi họ làm chủ công ty, dịch vụ của họ.


Một tin vui khác cho giới thợ thuyền là hiện giờ nước Úc đang thiếu nhân công có tay nghề trầm trọng. Bộ Di trú mỗi năm cho hàng ngàn công nhân có tay nghề (skilled workers) chiếu khán tạm thời vào Úc để làm việc. Trong tài khóa 2005-06 đã có hơn 58,000 thợ có tay nghề và gia đình của họ đã được các chủ nhân xin cho vào Úc làm việc, tăng đến 20% so với năm trước đó. Gần đây bạn đọc đã nghe có những chủ nhân Úc xin cho thợ làm bánh mì từ Việt Nam và thợ hàn xì từ Trung Cộng được đến Úc làm việc bởi công ty không thể tìm được nhân công ngay trong nước?


Có nên khuyến khích bà con, bạn bè học nghề chuyên môn (và học thêm một chút vốn tiếng Anh) để dễ xin qua Úc làm việc hay nộp đơn xin di dân theo diện skilled migrants? Chớ coi thường những nghề bị coi là tầm thường!

Dưới đây là bảng chỉ dẫn. Muốn biết thêm, bạn đọc có thể vào trang mạng www.whatjobspay.com.au


Chuyên viên kế toán: $1,215

Hầu bar rượu: $565

Tài xết xe bus và tram: $819

Đầu bếp chính: $699

Thợ điều khiển máy các nhà máy lọc dầu, khí đốt và hóa học: $1,974

Nhân viên giữ trẻ: $501

Kỹ sư cầu đường: $1,336

Thợ nấu ăn: $450

Thủ quỹ công ty: $1,582

Tài xế giao hàng: $676

Nha sĩ: $1,711

Thợ điện: $970

Thợ làm farm: $585

Thợ nấu ăn fast-food: $483

Giám đốc tài chánh: $1,596

Lính cứu hỏa: $977

Người bán hoa: $517

Tài xế forklift: $741

Thợ làm vườn: $595

Bác sĩ toàn khoa: $1,602

Thợ hớt tóc: $460

Thợ đóng bao bì: $527

Giám đốc lo về nhân viên: $1,393

Phụ bếp: $529

Thợ giặt ủi: $518

Luật sư: $1,689

Thợ làm đồ thép: $996

Kỹ sư hầm mỏ: $1,620

Giáo sĩ: $661

Nông gia nuôi gia súc: $546

Giám đốc văn phòng: $795

Thợ ống nước: $821

Cảnh sát viên: $1,172

Thợ điều khiển máy điện lực: $1,627

Giáo viên tiểu học: $1,062

Thợ nhà in và in màu: $851

Cai tù: $927

Tiếp viên văn phòng: $596

Y tá có bằng: $961

Nhân viên bán hàng: $635

Đại diện bán hàng: $1.014

Giáo viên trung học: $1,149

Thợ may: $469

Quản lý tiệm: $703

Nhân viên xã hội: $1,080

Bác sĩ chuyên khoa: $1,689

Coi kho: $706

Tài xế và phụ tá xe lửa: $1,228

Tài xết xe truck: $908

Bồi bàn: $490




Nhất nha, nhì kỹ, ba y: Ngành học lãnh lương cao khi ra trường tại Úc

Một buổi lễ tốt nghiệp và phát văn bằng tại Đại học Melbourne vào tháng 8 năm 2008

10 ngành học lãnh lương cao nhất khi ra trường tại Úc


1. Nha khoa: $68,000

2. Kỹ sư hầm mỏ: $64,500

3. Kỹ sư hoá học: $49,900

4. Địa chất học: $49,000

5. Kỹ sư cơ khí: $48,000

6. Kỹ sư điện: $47,500

7. Kỹ sư hàng không: $47,000

8. Các ngành kỹ sư khác: $47,000

9. Y khoa: $47,000

10. Kỹ sư cầu đường: $45,400


Theo tường trình mới nhất của Hội đồng Hướng dẫn Nghề nghiệp cho Sinh viên Tốt nghiệp tại Úc (Graduate Careers Council of Australia), cứ năm cô cậu đội mũ mặc áo cử nhân năm 2006 thì bốn tháng sau đã có bốn an vị trong những chỗ làm toàn thời với mức lương khẩm. Số còn lại hoặc làm bán thời hoặc học lên cao học, tiến sỹ. Chỉ một dúm nhỏ (5.5%) mang tấm bằng đem lộng kiếng mà thôi.

Đây là điều rất mừng cho các bậc sinh thành dày công nuôi con ăn học thành tài. Thật vậy, nhiều cô cậu miệt mài đèn sách giật cho được văn bằng cử nhân vào những năm 2003 và 2004 mà cuối cùng phải xếp hạng ngữa tay xin tiền trợ cấp từ CentreLink.

Nhưng tình trạng thê thảm này đã giảm bớt từ năm 2005 và được coi là không đáng kể với cô cậu cử nhân năm ngoái. Nhờ kinh tế tiếp tục tăng trưởng, người ta dự đoán cô cậu tốt nghiệp đại học năm nay rất nhiều hy vọng được hãng xưởng mở rộng tay chào đón.


Đền đáp công ơn sinh thành

Khi cô cậu lận lưng mảnh bằng cử nhân bước vào sở làm thì không những lương khởi đầu rất khẩm mà mức lương mày còn nhảy vọt lên rất nhanh. Như mọi năm, lương khởi đầu cao nhất vẫn là ông bà nha sỹ vừa bóc tem: họ lãnh sơ sơ trung bình $68,000 một năm. Tức là mỗi tuần đút túi đem về cho cha mẹ trung bình $1307 để đền đáp công ơn sinh thành(?).

Cùng một lúc, đền bù lại công khó đèn sách tất cả cử nhân năm 2006 đều đút túi trung bình $769 mỗi tuần. Nếu ai đó nhọc công đèn sách tại đại học mà ra trường năm ngoái rồi lãnh lương $40,800 một năm thì có thể tự hài lòng mình đã thành một ông bà cử 'thường thường bậc trung' tại Úc rồi đó.

Đây là mức lương trung bình của năm đầu tiên và đã tăng lên đều đặn từng năm 2000 cho tới nay. Thật vậy, vào năm 2000, lương của sinh viên tốt nghiệp đại học chỉ ở mức $35,000 trong năm đầu tiên. Đến năm 2005, cử nhân mặt còn búng ra sữa được lãnh lương trung bình doọt lên $38,000. Năm sau, $40,000 và năm nay $40,800. Xin nhớ cho: Đó là lương trung bình trong năm đầu tiên. Mức lương này sẽ doọt lên nhanh như hoả tiễn nếu cô cậu học ba ngành nha, kỹ sư, y khoa và luật.

Nhất nha, nhì kỹ, ba y

Từ năm 1977 tới nay, đứng chót vót trên bảng lương luôn luôn là nha sỹ tân khoa. Lúc đó, ngay trong năm đầu tiên cầm 'kềm cầm buá' nhổ răng, nha sỹ đã lãnh $46,400. Đây là số lương chót vót, nhưng không dầy cộm so với lớp nha sỹ đàn anh đàn chị ra trường năm 2000. Năm 2000, nha sỹ ra trường khi bắt đầu đi làm đã đút túi liền tay $50,000. Nhưng số lương này thấm là bao so với nha sỹ bắt đầu nhỗ răng năm 2007 đã đút túi $68,000 một năm rồi đó.

Thứ đến là các thầy/ cô kỹ sư. Trong số này, lương cao nhất là... kỹ sư đào mỏ, vì hai năm gần đây thế giới cần mua rất nhiều quặng mỏ mà Úc là quốc gia bỏ ngành nông nghiệp chuyển qua khai mỏ. Kinh tế tại hai tiểu bang Tây Úc và Queensland bùng nổ vì không kịp khai mỏ bán ra nước ngoài (trong đó Trung quốc và Nhật bản là hai khách hàng mua bao nhiêu quặng mỏ cũng không đủ dùng).

Thế là, ai lận lương mảnh bằng cử nhân khai mỏ năm 2006 thì năm nay lãnh lương sơ sơ cũng ở mức $64,500. Chỉ thua nha sỹ mới bóc tem mà thôi. Kế tiếp là các văn bằng cử nhân gì cũng được miễn là có chữ 'kỹ sư' in chữ nổi ở trên. Đó là kỹ sư hoá học, địa chất học, cơ khí, điện, hàng không và các ngành kỹ sư khác. Tất cả đều lãnh lương trung bình từ $47,000 cho tới $49,900 trong năm đầu tiên.

Sau tầng lớp kỹ sư rồi mới lương của tu bíp. Điều này cho thấy nấc thang xã hội tại Úc có phần thay đổi. Bác sỹ ngày nay không còn 'có giá' bằng kỹ sư nữa. Bác sỹ 'mặt búng ra sữa' năm nay chỉ lãnh trung bình $47,000. Không biết nha sỹ làm bao nhiêu giờ mỗi tuần, chứ người ta nói trong năm đầu tiên một bác sỹ đã phải làm việc ít nhất 52 giờ mỗi tuần rồi. Làm ngần ấy giờ, mà chỉ lãnh chưa tới 50k thì quả là không bõ(?).

Dược sỹ ở cuối bậc thang

Mười ngành học tiếp theo giúp cho cô cậu cử nhân lãnh lương cao là: kỹ sư cầu đường ($45,400); kỹ sư tin học ($45,000) ; giáo viên có bằng cao học/ tiến sỹ ($44,500); thiết kế đô thị ($44,000); giáo viên ($43,000); phục hồi chức năng (Rehabilitation, $42,600); toán ($42,500); nhân viên xã hội ($42,000); địa trắc (Surveying, $42,000).

Bạn đọc có thể thắc mắc: thế thì cô cậu luật sư trên thông thiên văn dưới rành địa lý, hay bác sỹ thú y hay dược sỹ và kiến trúc sư đi đâu mất rồi. Xin thưa: luật sư còn thơm mùi bút mực năm ngoái và bắt đầu đi làm năm nay chỉ lãnh lương bằng nhân viên xã hội và người đo đạc ruộng đất: $42,000.

Thú y là ngành học đòi điểm ENTER chót vót lại chỉ lãnh lương ở nấc thang gần cuối: $38,000. Nghĩa là hơn kiến trúc sư ba ngàn. Ở cuối bậc thang lương trung bình năm nằm cũng là ông bà dược sỹ ăn mặc bảnh bao. Lương năm nay của dược sỹ vừa ra trường là $32,000.

Tuy nhiên, phụ huynh dừng vội can ngăn con mình ghi tên học kiến trúc hay dược khoa. Hai ngành này có mức lương thấp sau khi tốt nghiệp đại học vì cần thêm một thời gian thục tập trước chính thức hành nghề. Sau thời gian thực tập, ông bà kiến trúc sư và dược sỹ sẽ lãnh lương... không kịp đếm.

Cũng như thế, bác sỹ mới ra trường có lương thấp vì thường phải nôi trú trong bệnh viện. Khi nào bác sỹ mở được phòng mạch thì rủng rỉnh 'kéo cạc' ăn tiền tới suốt đời cũng không hết.


Vui lòng Đăng nhập hoặc Tạo tài khoản để tham gia cuộc hội thoại.

Thời gian tải trang: 0.107 giây