× Úc Châu

Hỏi về chương trình đại học

More
9 năm 4 tuần trước #460 bởi so_luu_huong
cho em hỏi luôn là học y khoa và nha khoa chương trình học bao nhiêu năm đối với hệ đại học?thi đại học có khó không?em nghe nói phải thi 5 môn đạt hơn 97 điểm mới đậu phải ko?có trường y và nha nào nổi tiếng ở springvale,melbourne ko?

Vui lòng Đăng nhập hoặc Tạo tài khoản để tham gia cuộc hội thoại.

More
9 năm 3 tuần trước #463 bởi PhiLong
Bachelor of Medicine/ Bachelor of Surgery (MBBS) - Y Khoa

Monash Uni: thì 4 năm học và 1 năm thực tập.
www.med.monash.edu.au/medical/

Melbourne Uni: 5 năm học và 1 năm thực tập:
www.medicine.unimelb.edu.au/

Bachelor of Dentistry - Nha khoa
Monash Uni: Hình như không có dạy.
Melbourne Uni: 4 năm học 1 năm thực tập
www.dent.unimelb.edu.au/index.html

Trung bình đểm thi vào các ĐH về Y hay Nha khoa đều đòi hỏi phải cao, nếu nhiều người muốn vào các ngành trên thì số đểm đòi hỏi của các ĐH sẽ nâng lên còn ít thì sẽ hạ xuống, có lúc điểm lên tới 99 nhưng cũng có lúc hạ xuống 95. Tuy nhiên nếu không được vào ngành như ý, bạn hãy học ngành nào đó có liên quan tới sau này bạn thật muốn học, và hãy học hết sức để có điểm cao và xin đổi qua ngành mình yêu thích.

Springvale không có ĐH nào hết nhưng đi xe lửa khỏang 15 sẽ có ĐH học Monash hoặc 45 phút thì tới ĐH Melbourne Uni.

Vui lòng Đăng nhập hoặc Tạo tài khoản để tham gia cuộc hội thoại.

More
9 năm 2 tuần trước #474 bởi LaoNgoanDong
Thêm tài liệu cho cháu, trích từ tvts,

Học ngành nha khoa tại Úc

Nha khoa được văn nhân thi sỹ ca tụng là môn học đặt nụ cười lên khuôn mặt của nhân gian. Riêng phụ huynh và sinh viên thì coi nha khoa là một trong những môn học kén chọn sinh viên hạng nhất tại Úc. Với người nhức răng, muốn cho nụ cười tươi như hoa trở lại -- thì phải banh mồm, nhíu mày chịu đau trên ghế nha sỹ vài tiếng đồng hồ. Nha sỹ 'tra tấn' con bệnh rồi được chính 'nạn nhân' cám ơn rối rít sau khi móc bóp trả cho số tiền thù lao nặng cộm.

Phụ huynh nào muốn con cái mình sau khi tốt nghiệp đại học ngay trong năm đầu tiên đã lãnh lương trung bình sơ sơ là $63,621; đông thời suốt đời sống nhàn nhã trong một căn phòng xinh xắn: luôn luôn có cô thư ký giọng ngọt ngào ngồi ở cửa vào và một bóng hồng liếng thoắng khác lúc nào cũng kè kè bên cạnh... thì thử ngỏ ý với cô cậu ghi danh vào nha khoa.

Bài này xin trình bày một hai điều liên quan tới ngành học có khung cửa vào rất hẹp, số sinh viên rất ít nhưng rất đông bạn trẻ đang xây mộng bước vào. Đó là nha khoa tại Úc.

Nhu cầu nha khoa một năm một nhiều

Trong chục năm gần đây, có rất nhiều tiến bộ trong ngành nha khoa. Người ta đang nói tới một ngày rất gần nha sỹ sẽ cấy chiếc răng vào hàm của bệnh nhân và chiếc răng này tiếp tục mọc lên như... thiệt. Trong khi chờ đợi ngày không xa đó, hiện thời người dân Úc một ngày một thấy nhiều nhu cầu đi khán nha sỹ.

Hiệp hội nha sỹ Úc, Austalian Dental Association, thường viết tắt là ADA, cho biết từ năm 1995 tới 2001 con số người Úc gõ cửa phòng mạch nha khoa tăng lên 21%. Ngày nay người ta không phải chờ tới khi nhức răng như điên như dại mới tìm tới nha sỹ; mà nha sỹ còn là nơi giúp ta giữ vệ sinh trong miệng, đánh bóng hàm răng, chỉnh lại hai cái 'lũy tre' trong miệng cho ngay hàng thẳng lối như minh tinh màn bạc.

Giáo sư Paul Abbot, khoa trưởng nha khoa thuộc đại học Tây Úc cho biết: dân Úc thường xuyên hẹn gặp nha sỹ để phòng ngừa những chứng bệnh trong miệng hoặc để làm nụ cười của mình ngày thêm rạng rỡ. Nha khoa đang tiến gần tới một ngành chuyên biệt trong thuật giải phẫu thẩm mỹ.

Chương trình đào tạo nha sỹ

Nha khoa là một trong vài ba ngành học kén chọn sinh viên hàng đầu tại Úc. Tại Úc chỉ có sáu trường đại học có nha khoa: Adelaide, Griffith, Melbourne, Queensland, Sydney và Tây Úc. Thông thường đại học Úc đòi sinh viên học 5 năm mới cấp những văn bằng như Bachelor of Dental Science (BDSc) hay Bachelor of Dental Studies (BDentSt) hay Bachelor of Dental Surgery (BDS), vân vân.

Tổng số sinh viên nha khoa đang được đào tạo trên toàn nước Úc chỉ ở mức 1,200 người. Để vào cửa nha khoa tại đại học phải là học sinh tốt nghiệp hàng đầu chương trình trung học. Thí dụ đại học Melbourne, Victoria đòi chuẩn sinh viên đạt ít nhất là 96 điểm ENTER trở lên. Ngoài ra, chuẩn sinh viên còn phải học đủ ít nhất 35 units trong số những môn 3 và 4 unit như Anh văn, hóa học, toán Methods, toán Specialist hay vật lý.

Ngoài ra, từ năm 2000, chuẩn sinh viên còn phải qua kỳ thi UMAT chung với đồng bạn muốn học y khoa. Một số đại học như đại học Adelaide còn đòi chuẩn sinh viên qua một kỳ phỏng vấn nữa. Lách mình qua khung cửa hẹp của nha khoa, sinh viên sẽ miệt mài đèn sách trung bình 5 năm. Mỗi năm được vay mượn tiền HECS ở mức cao nhất là $8,004 Úc kim.

Những con đường dẫn tới nghề nha sỹ

Sau 5 năm miệt mài đèn sách, sinh viên tốt nghiệp nha khoa có thê gia nhập ADA để hành nghề. Những ai muốn chuyên sâu một ngành trong nha kha thì phải bỏ thêm 3 năm nữa. Tuy nhiên một số đại học đòi sinh viên chuyên khoa cần có thêm ít nhất 2 năm kinh nghiệm 'cầm kền cầu búa' trước khi ghi danh học chuyên khoa. Như vậy, một nha sỹ chuyên khoa thông thường phải mất khoảng 10 năm trước khi... hốt bạc ngàn.

Riêng sinh viên nha khoa tại tiểu bang NSW thì mảnh bằng nha khoa thường là văn bằng cử nhân thứ nhì của mình. Các đại học tại NSW đòi sinh viên phải có một văn bằng cử nhân nào đó trước khi học nha khoa. Đổi lại chương trình đào tạo nha sỹ tại NSW chỉ kéo dài 4 năm mà thôi.

Ngoài ra, đại học Úc còn có những ngành học không đào tạo ra nha sỹ 'nhổ răng' nhưng dạy các môn học liên hệ tới bệnh trong miệng. Niên khóa 2005, hai đại học Newscastle và Sydney đều nhận sinh viên vào chương trình cử nhân chữa bệnh trong miệng (Bachelor of Oral Health). Một số đại học khuyên cô cậu tú tài muốn làm nha sỹ nên chọn ngành chữa bệnh trong miệng như là ưu tiên số hai. Rủi ro không được vào thẳng nha khoa thì cứ vào ngành chữa bệnh trong miệng sau đó có thê xin chuyển qua cử nhân nha khoa.

Hành nghề nha sỹ tại Úc

Hiện nay, trên toàn nước Úc đang có khoảng 9,000 nha sỹ ghi danh hành nghề. Hiệp hội Nha sỹ Úc (ADA) cho biết khoảng 85 % nha sỹ có phòng mạch hay làm việc trong bệnh viện chữa bá bệnh liên hệ tới răng, miệng. Người Việt bình dân gọi họ là những 'nha sỹ thường'. Dư lại 12% là nha sỹ chuyên môn và 3% miệt mài trong các trường đại học và viện nghiên cứu.

Nói về ngành chuyên môn của nha khoa thì có rất nhiều. Quen biết với người Việt hơn hết là ' nha sỹ niềng răng'. Chữ Anh gọi nha sỹ chuyên sắp xếp lại 32 chiếc răng cho ngay hàng thẳng lối là Orthodontist. Bên cạnh đó là nha sỹ đào sâu những chứng bệnh tới tận chân răng, gọi là Endodontist.

Endodontist thường nhổ những chiếc răng khôn nằm ở cuối hàm. Còn Periodontist chuyên môn khám hàm, niếu, lợi và tìm cách giữ vững những chiếc răng lung lay khỏi rụng. Nếu răng sâu nhiều quá, nha sỹ 'thường' có thê trám rồi chuyển bệnh nhân qua người chuyên khoa bọc răng. Đó là những ông bà Prosthodontist chuyên ngành 'bắt cầu và đội vương niệm' lên những chiếc răng đã bị sứt mẻ.

Khi phụ huynh có con em sâu răng mà đưa tới nha sỹ thường thì quả là một cực hình. Các em la hét, khóc lóc và vùng vẫy như thể bị lên ghế tử hình trong khám đường bên Mỹ. Tại Úc có nha sỹ chuyên trị... con nít gọi là Pediatric Dentist. Phụ huynh tìn tới những ông bà cầm kềm buá này thì con nít hả miệng như thể được kẹo ngọt. Sau cùng, gần với ngành giải phẫu thẩm mỹ là phòng mạch giải phẫu răng, hàm, xương mặt có tên chữ Anh là Oral and Maxillofacial Surgery.

Như thế, khi nói tới nha sỹ thì không phải chỉ là những người nhổ răng hay trám răng mà thôi. Ở trường nha khoa tại Úc có rất nhiều ngành chuyên môn. Hàng năm nha khoa Úc cho ra trường khoảng 210 ông bà nha sỹ. Đông nam sinh viên chọn nha khoa hơn, nên con số ra trường vào khoảng 130 ông nha sỹ và 30 cô bà. Con số này quá ít so với nhu cầu chữa bệnh trong miệng của dân Úc, nên môi năm Úc nhận thêm vào khoảng 60 cho tới 70 nha sỹ di dân từ khắp thế giới vào.

Như trên đã viết: nha sỹ là nghề hái ra tiền vào bậc nhất tại Úc. Nhưng niềm vui của nha sỹ không dừng lại ở số tiền kếch xù bỏ vào túi mà là nụ cười tươi như hoa của nhân gian. Biết bao người phải bỏ lên đến 'thiên kim' để mua lấy 'nhất tiếu' ở những chốn giải trí. Nhưng để nụ cười của mình rạng rỡ thì phải chịu 'tra tấn' trong phòng mạch nha sỹ. Một điều lạ lùng: nha sỹ là người tra tấn thiên hạ mà luôn luôn được thiên hạ kính trọng và biết ơn.


Điểm vào Y Nha Dược

Tác giả: Vũ Đức Thanh

LGT. Y, Nha, Dược, Vật lý trị liệu và Nhãn khoa là những ngành học hàng đầu mà hầu hết phụ huynh đều nhắm đến cho con em. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều phụ huynh lầm tưởng rằng hễ đậu VCE cao là có thể chọn được bất kỳ ngành học nào ở bậc đại học. Thực ra không phải vậy, điểm vào Y, Nha và những ngành học vừa nêu còn tùy thuộc vào kết qủa của kỳ thi UMAT. Đây là kỳ thi trắc nghiệm dành cho học sinh, sinh viên muốn chọn các ngành liên quan đến về khoa học sức khỏe và y tế.



Sau khi tham vấn với các trường đại học sở tại, người viết có thể kết luận rằng UMAT đóng một vai trò quan trọng đến nỗi chỉ cần đậu cao trong UMAT thí sinh vẫn có thể được vào ngành Y hoặc Nha mà không cần phải có điểm ENTER nằm trong danh sách chóp bu (tức là 99.90 trở lên). Thực tế, đã có những thí sinh điểm ENTER 99.95 vẫn không được vào ngành Y, trong khi thí sinh khác với số diểm 99.10 lại được vào. Tại sao? Đó là sự lắt léo trong tiến trình tuyển sinh khi kết hợp ENTER với UMAT đối với các ngành học chóp bu ở xứ Úc.



UMAT chính là nguyên nhân của lắt léo và cũng là cái gai trong mắt học sinh Á châu. Chính vì vậy mà tờ The Australian trước đây đã mỉa mai khi cho rằng UMAT là cái lưới tuyển sinh để sàng lọc học sinh Á châu.



Tại sao UMAT không nằm trong giáo trình VCE lại trở thành một tiêu chuẩn bắt buộc trong tiến trình tuyển sinh đại học đối với các ngành học chóp bu như vậy?Hỏi tức là đã trả lời.



UMAT là gì?



Trước hết mời qúy độc giả cùng tìm hiểu về UMAT. Theo cơ quan ACER, UMAT là chữ viết tắt của Undergraduate Medicine and health sciences Admission Test, tạm dịch là Thi tuyển sinh vào các ngành Khoa học Sức khỏe và Y tế, trong đó các ngành sáng giá nhất là Y khoa, Nha khoa, Nhãn khoa, Dược khoa và Vật lý trị liệu, v.v... Bất kỳ học sinh nào có ý định chọn các ngành học vừa nêu ở trên đều bắt buộc phải thi UMAT. Ngoài các ngành học này ra thì học sinh không cần UMAT.



Mục đích của kỳ thi UMAT là để đánh giá và thẩm định khả năng của một học sinh trên nhiều phương diện khác nhau: từ kiến thức phổ cập, khả năng đọc hiểu Anh ngữ thật lưu loát cho đến cá tính và khả năng thiên phú. UMAT giúp cơ quan chức năng đo lường được năng khiếu của mỗi thí sinh từ khả năng suy diễn cho đến việc vận dụng đầu óc để đưa ra những phán đoán thật chính xác vừa cụ thể vừa trừu tượng. Từ sáu năm nay, UMAT được áp dụng trong quy chế tuyển sinh như là một tiêu chuẩn tiên quyết nhằm sàng lọc, loại bỏ và chọn đúng đối tượng thích hợp có khả năng chuyên môn cao, có trình độ nghiệp vụ và hiểu biết thực tiễn về nghề nghiệp mà các em định chọn sau này.



Cấu trúc của UMAT



UMAT được kết hợp từ ba phần thuộc ba lĩnh vực khác nhau: Phần 1 là Logical Reasoning and Problem solving, tạm dịch là khả năng Suy luận hợp lý và cách Giải quyết vấn đề, Phần 2 là Understanding People, có thể dịch là Hiểu biết về Con người, và Phần 3 là Non-verbal Reasoning, có nghĩa là Suy luận Trừu tượng.



Bài thi UMAT được chia làm ba phần với thời gian cho phép là 150 phút. Phần 1 gồm 44 câu hỏi với 65 phút làm bài; Phần 2 gồm 36 câu phải làm trong vòng 45 phút; Phần 3 gồm 30 câu với 40 phút cho phép. Như vậy toàn bộ bài thi UMAT năm 2005 có cả thảy 110 câu hỏi với tổng thời gian cho phép là 150 phút. Tính bình quân học sinh có khoảng một phút rưỡi cho mỗi câu trả lời. Các câu hỏi trong phần 1 và 2 của UMAT thuộc dạng trắc nghiệm với bốn câu trả lời lựa chọn A, B, C và D; trong khi phần 3 của UMAT có tới năm sự lựa chọn A, B, C, D và E. Điều này có nghĩa là học sinh phải chọn ra một câu trả lời đúng nhất từ năm câu lựa chọn.



Phần 1 kiểm tra về khả năng suy luận, óc phán đoán và tài diễn giải của học sinh để đưa đến một quyết định đúng đắn và hợp lý nhất. Các câu hỏi trong phần 1 là một chuỗi các tiểu đoạn, mỗi tiểu đoạn có một nội dung khác nhau trải rộng trên nhiều lĩnh vực. Phần 1 của UMAT nhằm kiểm tra kiến thức phổ cập và khả năng đọc-hiểu Anh ngữ và tính lô-gích của thí sinh. Mỗi tiểu đoạn sẽ có bốn câu trả lời lựa chọn mà học sinh sẽ phải chọn ra một câu trả lời hợp lý nhất. Sau khi đọc kỹ mỗi tiểu đoạn và và các câu hỏi lựa chọn, một học sinh giỏi có thể loại bỏ ngay được một câu trả lời không liên quan đến nội dung hoặc ngớ ngẩn; một câu trả lời khác thường mang tính trung lập; hai câu còn lại nghe có vẻ hợp lý và dường như đúng cả hai. Tuy nhiên, một đầu óc nhạy bén sẽ phân biệt được câu trả lời nào là hợp lý nhất trong hai câu còn lại.



Phần 2 tương tự như phần 1, tuy nhiên nội dung đi sâu về chuyên môn hơn. Dạng câu hỏi trong phần 2 thường đưa ra những trạng huống khác nhau giữa một bên là thầy thuốc và bên kia là bệnh nhân để thử tài ứng xử của thí sinh. Nhiều câu hỏi liên quan đến vấn đề lương tâm và nghề nghiệp. Một thí sinh giỏi phải biết ứng xử một cách khôn khéo và chọn ra một quyết định sáng suốt vừa hợp tình, hợp lý và hợp với đạo đức nghề nghiệp,



Phần 3 gồm toàn bộ các câu hỏi bằng hình vẽ đòi hỏi thí sinh phải có khả năng suy luận một cách độc lập và trừu tượng. Học sinh phải biết nhận diện hình trong một bức tranh hỗn hợp gồm đủ loại hình dạng và chiều kích khác nhau được đảo lộn trong không gian qua nhiều góc độ khác nhau. Có ba loại nhận diện: Loại I là đi tìm hình ẩn nhưng không bị xoay chiều hay đảo lộn góc cạnh. Loại II là đi tìm hình ẩn bị đảo lộn góc độ hoặc xoay chiều. Loại III: từ hai năm nay trở đi, cơ quan ACER lại tạo thêm các dạng câu hỏi khác để thử thách trí thông minh, tính lô-gích và khả năng phán đoán của thí sinh trong nỗ lực tìm ra một hình ảnh bị mất trong một chuỗi hình biến dạng.




Điều kiện để thi UMAT



Chỉ có học sinh đang học lớp 12 hoặc sinh viên đại học mới hội đủ điều kiện để thi UMAT. Nếu tốt nghiệp đại học thí sinh phải qua một kỳ thi khác gọi là GAMSAT. Loại thi này dành cho ứng viên đã hoàn tất chương trình bậc đại học (tức là có văn bằng cử nhân) nay muốn chuyển qua học Y hoặc Nha.



Mỗi thí sinh được quyền thi UMAT nhiều lần, nhưng kết qủa thi UMAT chỉ có giá trị trong vòng hai năm. Điều này có nghĩa học sinh được quyền giữ kết qủa UMAT của năm trước áp dụng cho năm sau mà không cần phải thi thêm một lần nữa. Cách này sẽ có lợi cho thí sinh đậu cao trong kỳ thi UMAT lần trước nhưng không đủ điểm ENTER để vào ngành học mình muốn chọn. Trong trường hợp, nếu muốn, thí sinh có thể học lại VCE lớp 12 để lấy điểm ENTER cao hơn mà không sợ bị trừ 10% số điểm như những năm trước nay.



Trước khi quyết định thi UMAT lần hai thí sinh phải cân nhắc và suy tính cho thật kỹ, bởi vì nếu đi thi UMAT lần thứ hai (tất nhiên sẽ có hai kết quả) thì dù muốn hay không thí sinh cũng phải chấp nhận điểm thi UMAT mới nhất chứ không phải điểm thi cao nhất.



Xin đơn cử một thí dụ cho dễ hiểu, học sinh A năm ngoái thi UMAT với kết qủa rất cao là 295 điểm, nhưng điểm ENTER của A chỉ được 95,50 nên không đủ điểm vào học Y hoặc Nha. (Trên lý thuyết, UMAT có thể lên đến 400 điểm). Tuy vậy, A vẫn không hài lòng về cả hai kết quả UMAT ở trên. A đã quyết định học năm thứ nhất khoa học ở đại học Melbourne và thi UMAT thêm một lần nữa với hy vọng đậu cao hơn để vào học Y theo diện UMAT Stream. Tuy nhiên kết quả lần này hoàn toàn trái ngược với những gì A mong đợi: kết quả UMAT bị thụt xuống còn 235 điểm trong khi kết quả thi của các môn học năm thứ nhất ở đại học của B rất cao (H1 – First Class Honour). Xét về thành tích học vấn (academic achievement) thì năm đó A đủ tiêu chuẩn vào ngành Y hoặc Nha theo diện “Internal Transfer” (nghĩa là chuyển ngành trong cùng một trường đại học). Tuy nhiên khi kết hợp với điểm thi UMAT thì A không đủ tiêu chuẩn vì kết quả UMAT lần sau của A chỉ còn 235 điểm (chứ không phải kết qủa 295 lần đầu). Như phụ huynh có thể nhận thấy, học sinh A đã mạo hiểu trong quyết định thi lại UMAT. Lẽ ra với số điểm UMAT 295 của lần trước cao như vậy thì A nên giữ nguyên vì số điểm này tương đối cao, khó có thể kiếm lại được.



Giả như học sinh A không thi lại UMAT và vẫn giữ nguyên kết qủa UMAT lần trước thì rất có thể A đã được vào ngành học mà em đã dày công theo đuổi.

Một thí dụ khác, học sinh B đã học lớp 12 cách đây hai năm và đã thi với kết qủa UMAT là 178 điểm và ENTER 99,70 nhưng bị từ chối vào ngành Y và Nha vì điểm UMAT chưa đủ tiêu chuẩn. Năm ngoái học sinh B đã thi UMAT thêm lần nữa với hy vọng lấy điểm UMAT cao hơn UMAT năm trước. Qủa thực lần này B đã thi UMAT được 250 điểm. Ban tuyển sinh căn cứ vào điểm thi UMAT mới nhất của B cùng với điểm ENTER của năm trước nên đã chấp thuận cho B vào ngành Y theo diện ENTER/UMAT Stream. Cuối cùng B đã thực hiện được ước mơ của mình. Rõ ràng quyết định của B là khôn ngoan vì B đã quyết định thi lại UMAT. Sở dĩ điểm UMAT lần đầu của B thấp có thể vì B chưa từng biết qua UMAT nên chưa có kinh nghiệm làm bài thi loại này. (Lưu ý UMAT không chỉ là kỳ thi kiến thức về những gì mà học sinh được học ở nhà trường mà là kỳ thi về trí tuệ. Nó bao hàm kiến thức tổng quát, kỹ năng tự nhiên mà học sinh hấp thụ được từ những kinh nghiệm và học hỏi trong cuộc sống. “UMAT is an aptitude test. It is not curriculum-based...” trích từ tài liệu hướng dẫn của cơ quan ACER).



Thời hạn nộp đơn



Hạn chót nộp đơn thi UMAT là 5 giờ chiều thứ Sáu ngày 10 tháng 6. Tuy nhiên vẫn có thể nộp đơn trễ hơn nếu quý vị chịu đóng thêm tiền phạt. Việc đăng ký thi có thể thực hiện qua internet hoặc điền đơn ghi danh theo cách thông thường. Muốn lấy đơn ghi danh quý vị có thể gọi số 9277 5673 hoặc 9277 5746, hoặc gởi điện thư email đến Lệ phí thi UMAT là $140, nếu có thẻ chăm sóc sức khỏe chỉ đóng $50.



Biết trước về UMAT có lợi gì hay không?



Theo ACER – cơ quan chấm thi và ra đề – thì UMAT là một kỳ thi kiến thức phổ quát không giới hạn. Nội dung UMAT không thu hẹp trong phạm vi kiến thức về những gì học sinh đã được học ở trường. Tuy nhiên, ACER phải thừa nhận rằng việc làm quen với các dạng câu hỏi trong UMAT là có lợi “familiarity with the question types typically presented in UMAT is an advantage... “ trích từ ACER. Chính vì lý do này mà cơ quan ACER đã lồng vào một số câu hỏi mẫu trong mỗi phần của UMAT để học sinh có khái niệm và suy đoán về các dạng câu hỏi có thể xuất hiện trong bài thi.


Điểm vào Y Nha Dược (tt)





Tác giả: Vũ Đức Thanh



Trong số báo tuần trước, quý độc giả đã có dịp tìm hiểu về UMAT- một kỳ thi có tính chất bắt buộc đối với các ngành Y, Nha, Dược và Vật lý trị liệu. Kể từ năm nay, UMAT được áp dụng cho cả ngành Nhãn khoa tức Optometry. Người viết mời qúy độc giả cùng tìm hiểu về cách tính điểm ENTER cho tất cả các ngành học nói chung và điểm UMAT cho các ngành thuộc về y học nói riêng.



Điều kiện tiên quyết để vào Y Nha Dược



Muốn vào ngành Dược ở ĐH Monash, ngoài môn Anh văn ra thí sinh còn phải học môn thêm Toán (Maths Method) và môn Hóa (Chemistry) và điểm tối thiểu phải đạt được cho mỗi môn từ 30 trên 50. Kế đến, điểm ENTER không được dưới 95 và điểm UMAT phải nằm trong nhóm hạng thứ 20 (tức TOP 20%).



Đối với ngành Y và Nha ở ĐH Melbourne, thí sinh bắt buộc phải chọn hai môn tiếng Anh và Hóa học, đồng thời phải chọn một trong các môn học sau: Maths Methods hoặc Specialist Maths hoặc môn Vật lý (Physics). Điều kiện tiếp theo là kết qủa thi của mỗi môn học phải đạt từ 35 trên 50 điểm. Và điều kiện sau cùng nhưng hết sức quan trọng đó là thí sinh phải đủ điểm ENTER và UMAT, cụ thể là điểm ENTER phải trên 96 và điểm UMAT phải nằm trong nhóm TOP 20%.



Cách tính điểm UMAT và ENTER



Trường ĐH Melbourne tuyển sinh vào ngành Y, Nha và Vật lý trị liệu dựa theo nguyên tắc sau đây: ENTER thấp thì UMAT cao và ngược lại, ENTER cao thì UMAT thấp. Dù vậy điểm ENTER không được thấp dưới 96,05 và điểm WUMAT không được xuống dưới mức 182. WUMAT là chữ viết tắt của Weighted UMAT. Đây là điểm hệ số của UMAT dùng để nhóm hạng thí sinh.



Trường ĐH Monash dùng hệ số 1 đối với tất cả ba phần của UMAT; trong khi đó trường ĐH Melbourne thì tính hệ số 2 cho phần một và hệ số 1 cho phần hai và phần ba của bài thi UMAT theo công thức này: điểm của phần một nhân đôi rồi cộng với phần hai và phần ba.



Thí dụ một thí sinh làm bài thi UMAT phần một được 65%, phần hai được 60% và phần ba được 50%. Điểm chỉnh WUMAT của thí sinh đó (sau khi tính hệ số) sẽ bằng WUMAT 240 (do bởi 65 x2 + 60 + 50) theo lối tính của ĐH Melbourne, và bằng WUMAT 175 (tức là 65 + 60 + 50) theo lối tính của ĐH Monash.

Để nhóm hạng thí sinh, người ta xếp điểm WUMAT theo thứ tự từ thấp nhất đến cao nhất, rồi lấy hai mươi phần trăm từ dưới lên sẽ được nhóm TOP 20%. Muốn vào Y Nha Dược, thí sinh phải nằm trong nhóm này.



Giấy báo điểm UMAT



Sau khi thi UMAT vào ngày 27 tháng 7 năm 2005 thí sinh sẽ nhận được phiếu báo điểm trong tháng 9 từ cơ quan ACER (Australian Council for Educational Research) gửi về. Trong phiếu báo điểm có ghi điểm cụ thể từng phần của UMAT tính theo phần trăm trong đó có điểm nguyên (raw score) và điểm chỉnh (scaled score). Điểm nguyên là điểm bài làm thực sự của học sinh còn điểm chỉnh là điểm được điều chỉnh lại dựa trên mức độ khó dễ của mỗi phần trong bài thi UMAT, có phần được kéo lên, có phần bị hạ giảm hoặc không thay đổi. Thông thường phần ba được điều chỉnh lên khá nhiều. Thí dụ điểm nguyên (raw score) của phần ba là 65 có thể tăng lên (scale up) thành 90. Tuy nhiên các trường đại học chỉ căn cứ vào điểm nguyên để tính hệ số cho WUMAT.



Lối tuyển sinh mới



Trường ĐH Melbourne tuyển nhận thí sinh vào các ngành Y, Nha và Vật lý trị liệu chủ yếu dựa vào ENTER và UMAT theo ba phương cách sau đây: Thứ nhất là ENTER Stream, thứ hai là UMAT Stream và thứ ba là UMAT/ENTER Stream.



1) ENTER Stream (25%): lấy ENTER làm chuẩn qua đó sẽ có một phần tư số đơn được nhận vào. Nếu điểm ENTER cao, ví dụ nếu ENTER 99,90 trở lên thì chỉ cần WUMAT 182.



2) UMAT Stream (25%): lấy UMAT làm chuẩn. Có một phần tư số đơn được nhận vào theo diện này. Nếu điểm UMAT cao, thí dụ cụ thể là WUMAT từ 285 trở lên thì chỉ cần ENTER tối thiểu 96,35 là đủ.



3) UMAT/ENTER Stream (50%): phối hợp giữa ENTER và UMAT trong tiến trình tuyển sinh. Xin đơn cử một vài số liệu cụ thể: nếu điểm ENTER nằm trong khoảng từ 99,65 đến 99,85 thì tối thiểu phải có WUMAT 237. Nếu ENTER nằm trong phạm vi từ 99,70 đến 99,85 thì chỉ cần WUMAT 230.



Điểm ENTER là gì?



Vừa rồi là những gì liên quan đến UMAT, sau đây mời qúy độc giả cùng tìm hiểu về điểm ENTER và nguồn gốc của nó. Tại sao không phải ENTER 100,00 mà lại là 99,95? Làm cách nào để giúp con em đạt được số điểm tối đa? Vấn đề chọn môn có ảnh hưởng gì đến việc làm tăng hay giảm số điểm ENTER đi hay không? Đó là các câu hỏi thường gặp trong giới phụ huynh có con em đang hoặc sắp sửa bước vào chương trình VCE lớp 11 và 12.



Điểm UMAT được chuyển qua điểm WUMAT để điều chỉnh lại sự công bằng giữa phần khó và phần dễ trong bài thi UMAT. Cũng vậy, điểm VCE được chuyển qua ENTER với một mục đích tương tự: nhằm điều chỉnh lại sự công bằng giữa một môn học dễ và một mônhọc khó.

Sau khi có kết thi VCE lớp 12 do cơ quan VCAA (Nha học chánh) cung cấp, cơ quan VTAC (Nha khảo thí) sẽ chuyển điểm VCE thành điểm ENTER (Equvalent National Tertiary Entrance Rank) – Thang điểm tương đồng được dùng chung trên toàn quốc. Qua việc chuyển đổi các kết qủa như vây sẽ có môn học được tăng điểm lên và có môn bị hạ điểm xuống. Xin đọc thêm chi tiết ở phần sau.



Chương trình VCE


VCE là chương trình tú tài dành cho học sinh lớp 11 và 12 ở tiểu bang Victotia. Chương trình này có bốn Đơn vị học (Unit): hai Đơn vị đầu ở năm 11 và hai Đơn vị sau là ở năm 12. Khác với năm lớp 12, điểm thi của năm 11 sẽ không tính vô ENTER mà chỉ tính đậu hoặc rớt. Nếu đậu thì học tiếp lên Đơn vị 3 và 4. Chương trình VCE có nhiều môn học để lựa chọn, tuy nhiên sự lựa chọn đa dạng hay không còn tùy thuộc vào trường đang theo học. Thông thường ở những trường lớn sẽ có nhiều môn để học sinh chọn lựa hơn những trường nhỏ, ít học sinh.



Có nhiều nhóm môn khác nhau, chẳng hạn nhóm Toán gồm thì có Maths General, Further Maths, Maths Methods và Specialist Maths. Nhóm ngôn ngữ sắc tộc (LOTE) thì có: Vietnamese, Chinese, Japanese, French, Latin, vân vân. Ngoài ra còn có nhiều nhóm học khác nữa như Môi trường học (Environmental Studies), Sử học (History), Âm nhạc (Music), Kỹ thuật thông tin (Information Technology), Luật học (Legal Studies), vân vân. Trong các nhóm học có nhóm Anh ngữ là bắt buộc. Học sinh có thể chọn ESL nếu mới định cư ở Úc chưa qúa năm năm.



Việc chọn môn có thể ảnh hưởng đến cơ hội chọn ngành sau này của học sinh. Nếu biết chọn môn, học sinh có thể chọn nhiều hướng khác nhau nếu sau này thay đổi ý kiến. Ví dụ muốn chọn Y Nha Dược mà không học Chemistry hoặc Maths Methods thì uổng công. Nếu không có kế hoạch nghiêm túc, học sinh có thể đi lạc vào con đường một chiều mà không có lối ra. Việc chọn môn hết sức quan trọng vì không những nó giúp học sinh chọn đúng ngành, đi đúng hướng mà có thể giúp tăng thêm điểm ENTER nếu biết tính toán. Thí dụ môn Toán Specialist và Toán Methods được tăng điểm lên trong khi Toán Further thì bị hạ điểm xuống khi chuyển đổi điểm VCE sang ENTER.



Như đã nói ở trên, Nha khảo thí được giao phó trách nhiệm điều chỉnh lại điểm thi tú tài VCE (raw score) do Nha Học Chánh cung cấp thành điểm chỉnh (Scaled Aggregate). Điểm chỉnh của mỗi môn học có thể tăng lên hay giảm xuống tùy thuộc vào mức độ khó của môn học và tùy theo nhóm tuổi. Nếu so sánh giữa một môn toán khó như Specialist Maths với một một toán dễ như Further Maths. Dĩ nhiên một môn toán dễ được nhiều người chọn hơn vì dễ lấy điểm trong khi môn Toán khó thì ít người học vì sợ thấp điểm. Chính vì lý do đó mà môn Toán khó được nâng điểm lên và ngược lại.



Nha Khảo Thí đã liệt kê một danh sách dài gồm tất cả các môn học VCE (trước và sau khi điều chỉnh điểm). Người viết chỉ cung cấp một số môn học được đa số học sinh Việt nam ưa chuộng để phụ huynh tham khảo. Ví dụ môn Hóa (Chemistry) nếu được 30 điểm (raw score) thì được điểu chỉnh lên 35 (scaled aggregate); nếu 35 thì tăng thành 40; 40 thành 44 và 45 thành 48. Môn Further Maths sau khi điều chỉnh sẽ bị thụt xuống như sau: 30 xuống còn 27, 35 còn 32, 40 còn 37 và 45 còn 43.



Các môn khác được tóm gọn như sau: Accounting 30 = 30, 35 = 35, 40 = 40, 45 = 45, 50 = 50 (không thay đổi); Biology 30 = 30, 35 = 36, 40 = 41, 45 = 46, 50 = 50 (có khuynh hướng gia tăng); Chemistry 20 = 23, 25 = 29, 30 = 35, 35 = 40, 40 = 44, 45 = 48, 50 = 50 (tăng nhiều); Physics 25 = 27, 30 = 33, 35 = 39, 40 = 43, 45 = 47, 50 = 50 (tăng nhiều); English 25 = 22, 30 = 28, 35 = 34, 40 = 39, 45 = 45, 50 = 50 (hơi giảm); ESL 25 = 22, 30 = 28, 35 = 35, 40 = 41, 45 = 46, 50 = 50 (trồi sụt); Japanese 25 = 35, 30 = 40, 35 = 45, 40 = 48, 45 = 51, 50 = 53 (tăng nhiều); Vietnamese 25 = 26, 30 = 31, 35 = 36, 40 = 41, 45 = 46, 50 = 50 (tăng chút đỉnh); Further Maths 25 = 22, 30 = 27, 35 = 32, 40 = 37, 45 = 43, 50 = 50 (giảm nhiều); Maths Methods 25 = 32, 30 = 38, 35 = 42, 40 = 46, 45 = 49, 50 = 50 (tăng nhiều) và Specialist 25 = 36, 30 = 42, 35 = 47, 40 = 50, 45 = 53, 50 = 55 (tăng nhiều nhất).


THE BEST FOUR


Sau khi điều chỉnh điểm của từng môn học VCE, Nha Khảo Thí sẽ chuyển đổi qua ENTER bằng quy theo nguyên tắc sau đây. Muốn có điêm ENTER thì điều kiện bắt buộc là thí sinh phải học ít nhất là bốn môn VCE trong đó có môn tiếng Anh. Môn tiếng Anh và ba môn cao điểm nhất gọi là BEST FOUR sẽ được tính vào ENTER cộng với 10% của mỗi môn tiếp theo nhưng không qúa hai. Học sinh có thể học nhiều môn nhưng chỉ được lấy kết qủa của sáu môn cao điểm nhất để tính vô ENTER. Nếu học bảy môn thì được quyền chọn kết quả của sáu môn cao điểm nhất. Nếu học năm môn thì chỉ được thưởng 10% cho một môn.



Từ VCE qua ENTER


Lấy thí dụ cho dễ hiểu: học sinh A đã hoàn tất chương trình VCE năm 2004 và đã được Nha học chánh cấp tín chỉ như sau: Specialist Math (45), Maths Methods (40), Physics (45), Chemistry (35), English (40) và Vietnamese (45). Đây là số điểm thực sự trong bài thi của học sinh do Nha học chánh cung cấp. Dựa vào kết qủa này Nha khảo thí có thể sẽ điều chỉnh lại như sau: Specialist Maths (50), Maths Methods (46), Physics (47), Chemistry (40), English (39) và Vietnamese (46).



ENTER được tính như sau: môn English (40) bắt buộc, cộng với ba môn cao điểm nhất là Specialist Maths (50), Physics (47) và Maths Methods (46). The BEST FOUR tức là điểm của bốn môn này là 40 + 50 + 47 + 46 = 183. Hai môn còn lại được cộng 10% cho mỗi môn: Vietnamese (4,6) và Chemistry (4,0) bằng 8,6 điểm. Như vậy điểm ENTER của học sinh A sẽ bằng 183 + 8,6 = 189,6 tương đương với ENTER 98,30 dựa trên bảng chuyển đổi từ điểm chỉnh qua điểm ENTER.

ENTER được xếp hạng cao nhất là 99,95 và thấp nhất là 30.00 (dưới 30 sẽ nhận được kết qủa “less than 30”. Sau khi điều chỉnh, điểm cao nhất là 213,9 tương đương với ENTER 99,95 và thấp nhất là 86,60 tương đương với ENTER 30,00.



Tùy theo trình độ của học sinh mỗi năm, điểm cao nhất có thể còn hơn 213,9 vì trên lý thuyết học sinh có thể đạt được 220,5 nếu học sáu môn trong đó có Toán Specialist và tiếng La-tinh. Giả sử tất cả các môn đều được 50 điểm trước khi điều chỉnh.



Điểm ENTER không tính phần trăm theo phép tính đơn thuần, mà dựa vào phương pháp thống kê với độ dung sai là .05 cho tất cả các thang điểm. Dù cao điểm đến đâu thì học sinh cũng chỉ nhận một thang điểm ENTER tối đa là 99,95 Chính vì vậy mà không có điểm ENTER 100,00.



Dưới đây là một vài dữ liệu trong bảng chuyển đổi từ điểm chỉnh qua điểm ENTER trong niên học trước đây như sau: 213,9 (or higher) = ENTER 99,95; từ 211.3 đến 213.8 = ENTER 99,90; 207,6 – 211,1 = 99,85; 206,6 – 207,5 = 99,80; 205,2 – 206,5 = 99,75; 200,7 – 201,7 = 99,50; 195,3 – 195,8 = 99,00; 187,9 – 188,0 = 98,00; 175,9 = 95,00; 162,6 = 90,00; 144,8 = 80,00; 131,2 = 70,00; 119,3 = 60,00; 108,3 = 50,00; 86,6 = 30,00.



Tới đây có lẽ một số độc giả sẽ thắc mắc về số điểm 213,9 làm sao có thể đạt được, cho dù học sinh đó làm bài được 50 trên 50 cho mỗi môn trước khi điều chỉnh thì sau khi điều chỉnh cũng chỉ được 210 điểm là tối đa? Tuy nhiên, điểm ENTER được tính sau khi đã điều chỉnh. Nếu một học sinh chọn các môn học có khả năng được tăng điểm cao chẳng hạn như Specialist Maths, thì sẽ được tăng lên thành 55 (Latin tăng 55, Chinese tăng 54 và Japanese tăng 53). Nếu học chương trình VCE (Advanced) lớp 12 đồng thời học một môn năm thứ nhất ở đại học, thí dụ chương trình MUPHAS thì học sinh đó có thể nhận 5,5 điểm thưởng. (Môn học của MUPHAS ở ĐH Melbourne được thưởng như sau: nếu đậu trên 80% thì được thưởng 5,5 điểm; nếu đậu trên 60% thì được 5 điểm, còn nếu đậu dưới 60% thì cũng được cộng thêm 4 điểm.)

Vui lòng Đăng nhập hoặc Tạo tài khoản để tham gia cuộc hội thoại.

Thời gian tải trang: 0.119 giây